Lớp A0 – Khóa 9

They came, they saw and they ….

Xuyên miền nhớ (2)


Trở về

Năm 2005 cậu con trai làm cả nhà đứng tim khi cậu quyết định đổi vé máy bay đi từ Hà Nội về Sài gòn bằng chuyến tàu liên vận Thống Nhất xuyên Việt. Mọi người có lý do để lo ngại: ngòai việc cậu vẫn còn là đứa trẻ lớ ngớ ngòai đời, cậu đã sống ở nướcc ngòai từ lâu mà lại đi một mình. Cả nhà chỉ thở phào nhẹ nhõm khi nhìn cậu toe tóet cười ở ga Hòa Hưng, đang gò lưng đẩy mấy cái cần xé to đùng cùng mấy bà tiểu thương. Chuyến thám hiểm ly kỳ này rốt cuộc chỉ là những câu chuyện xoay quanh những người đồng hành cùng toa tàu với cậu: hai bà thương nhân người Trung và bác bộ đội người Bắc về phép. Nhìn cậu con vô tư kể chuyện, tôi chợt nghĩ, ba mươi năm trước cũng có một thiếu niên làm chuyến xuyên Việt đầu tiên trong đời, chuyến xuyên Việt hy hữu và đặc biệt đến nỗi những chuyến xuyên lục địa, xuyên Thái Bình Dương hay xuyên nửa vòng trái đất sau này so với nó chỉ còn là “ba thứ lẻ tẻ”!

*

Mùa Xuân năm 1975…

Lúc đó tôi đang ở ký túc xá cùng các bạn. Tin chiến thắng dồn dập từ miền Nam khiến cả khu nhà đầy ắp sinh viên và học sinh náo nhiệt ầm ĩ suốt đêm dù bài vở ngập đầu căng thẳng. Và cuối cùng niềm vui như nghẹt thở rồi nổ bung ra khi trận chiến thắng cuối cùng đã kết thúc chiến tranh và thống nhất đất nước. Với tôi niềm vui như gấp bội vì trong niềm vui chung, tôi có niềm vui riêng. Ấy là tôi và gia đình đã thỏa được lòng mong mỏi có ngày hôm nay để trở về Nam gặp lại đại gia đình đã bị chia cắt mấy chục năm. Tôi sẽ được tới một vùng đất mới, gặp những người thân chỉ được nghe qua lời kể.

Tôi bèn trốn trường về chơi với gia đình vào ngày 1/5, ngày lễ kế tiếp ngày vui chiến thắng. Còn gì hân hoan hơn những ngày say trong hòa bình còn mới nguyên.

Rồi tin tức giữa hai miền nhanh chóng thông thương, những bức thư gián đọan hơn hai mươi năm được nối lại. Chúng tôi được biết đầy đủ tin tức của người thân. Ông bà tôi đã ra đi cả rồi nhưng còn đủ các cô, chú, dì, cậu. Cô tôi viết thư hối thúc ba và các bác nhanh chóng về Nam. Các dì tôi cũng vậy. Với gia đình tôi, đó là điều khỏi bàn.

Khác với nhiều người, sau ngày thống nhất đã vào Nam ngay để chơi và xem xét tình hình, ba mẹ tôi chỉ báo cáo tổ chức và chờ nhận giấy điều động công tác rồi mới đi. Vào đầu năm học mẹ tôi đã nằm trong đòan giáo viên của Bộ Giáo dục gửi về Nam đợt đầu tiên. Vậy là tôi cũng khăn gói chuẩn bị lên đường cùng mẹ.

Tôi nhấc lên nhấc xuống từng quyển sách trong tủ sách yêu quý của mình. Biết mang gì và bỏ lại gì đây? Tôi đã phải bỏ lại cả con búp bê có khuôn mặt xinh đẹp với mái tóc vàng óng, biết nhắm mắt mở mắt và biết khóc oe oe. Con búp bê này dì tôi mang từ nước ngòai về cho. Tôi gói ghém theo những bức bưu ảnh có những hàng chữ tròn tim tím của những đứa bạn gái học cùng, cái Hương, cái Oanh, cái Vân, cái Hoa…. Mấy đứa bạn chỉ học mấy tháng với nhau ở nơi sơ tán cũng lũ lượt đến chia vui và tạm biệt cùng những dòng lưu niệm rất lâm ly. Bọn nó xúyt xoa ghen tỵ khiến tôi cũng thấy phấn chấn và tự thấy mình may mắn hơn bạn bè.
Dù biết cuộc hành trình trước mắt là dài và gập ghềnh, mẹ con tôi vẫn không thể giảm thiểu mớ hành lý hồi hương dưới hai chiếc vali. Và ngày xuất phát cuối cùng cũng đã đến.

Mẹ tôi là giáo viên, cũng là hiệu trưởng trường cấp 1. Ngẫu nhiên mà cuộc hành trình bắt đầu tại cổng trường của bà. Tất cả các thầy cô giáo trẻ đều ra tiễn đưa mẹ tôi. Họ đều mừng cho bà đạt được nguyện vọng ấp ủ bao năm. Tiếng cười nói huyên náo suốt dọc vỉa hè, nơi có mấy chiếc xe ca đậu hiên ngang háo hức chờ lệnh xuất kích. Chỉ khi có tiếng nhắc nhở mọi người lên xe để chuẩn bị rời khỏi thành phố, phút bịn rịn mới bắt đầu. Tôi vẫn nhớ hình ảnh cô giáo Quỳ, mẹ của cái Hà học dưới tôi một lớp, mắt đỏ hoe, mũi sụt sịt, giúi vào tay mẹ tôi một gói nho nhỏ. Cô Quỳ đã chuyển lên dạy cấp 2 từ lâu nhưng vẫn là người em thân thiết với mẹ tôi như từ thời hai người mới bỡ ngỡ về thành phố cảng xa lạ. Trong cái gói nho nhỏ ấy là cái hoa cài áo mạ vàng, gắn những hạt pha lê màu đỏ sáng lóng lánh. Nó không còn mới nữa nhưng là một vật quý hiếm thời đó và chỉ có thể được gửi về từ nước ngòai. Xe chuyển bánh và tôi cứ ngóai nhìn các thầy cô đứng vẫy tay cho đến khi xe ngoặt sang phố khác. Cái háo hức với một trang đời mới không làm tôi buồn trong thời điểm chia tay ấy. Và thực tế vài chục năm sau tôi vẫn còn được gặp lại nhiều người đã đưa tiễn mẹ con tôi ngày đó.

Điểm dừng chân đầu tiên của cuộc hành trình là thị trấn Bần, Hưng Yên. Đấy là nơi tập kết của tòan bộ đòan người đi Nam của Bộ Giáo Dục. Ở đây có thể gặp những thầy cô giáo đã đứng tuổi, đèo bòng theo một lũ trẻ con mà họ âu yếm gọi là lũ mất gốc vì “chúng nói rặt giọng Bắc”. Cũng có kha khá một đám người trẻ tuổi còn giữ nguyên giọng Nam. Đó là những người đã từng học ở các trường học sinh miền Nam những ngày đầu tập kết. Họ mới rời trường sư phạm không bao lâu và hân hoan trở về quê hương, nơi chỉ còn là những ký ức tuổi thơ xa xưa. Và trong đòan, không ít một lực lượng người tuổi còn trẻ, đa phần là nam bị điều động vào những vùng xa xôi, nơi không có đủ giáo viên hồi hương. Những người này có vẻ ra đi trong miễn cưỡng, thường lặng lẽ tót lên xe trước chiếm chỗ tốt do hành lý chỉ là một cái ba lô nhẹ tênh. Có lẽ họ không ngờ rằng chuyến đi đầy sóng gió này chính là bước ngoặt lớn cho cuộc đời họ, bước ngoặt mang lại một tương lai tốt đẹp mà những đồng sự ở lại quê nhà không bao giờ có được. Sau này ai cũng biết đất phương Nam là miền đất ẩn chứa biết bao cơ hội.

Đối ngược với hành lý gọn nhẹ của đám thanh niên chi viện, những người hồi hương ai cũng lỉnh kỉnh vali hòm xiểng. Thật là trớ trêu, những người nhanh chóng rời khỏi nơi mà họ luôn tâm niệm chỉ ở tạm dường như gói ghém theo mình mọi kỷ niệm của mấy chục năm ở nhờ. Bởi vì ai cũng biết, thời điểm đó miền Nam vẫn còn khá nhiều hàng hóa. Hành lý nặng nhưng lòng nhẹ tênh, chúng tôi ríu rít bước chân lên những chiếc xe ca nối đuôi nhau hướng về Hà Nội. Ga Hàng Cỏ là bến xe lửa duy nhất trong hành trình về Nam này sẽ đón tiếp chúng tôi cho chuyến tàu Hà Nội – Vinh vào tối hôm đó. Những người dân Hưng Yên đứnh hai bên đường vẫy chào tạm biệt đòan. Chỉ có hai tuần ở đây nhưng cũng đủ để đầy lên những cảm giác bịn rịn. Tạm biệt nhé những người nông dân với những chiếc áo nâu bạc màu đầy tình người và sự cam chịu. Đó là hình ảnh cuối cùng của tôi về những người dân điển hình của vùng đồng bằng Bắc bộ. Phải rất lâu sau tôi mới gặp lại hình ảnh này.

Ở Hà Nội tôi cũng thu xếp được thời gian chạy vào khu Thượng Đình để thăm các bạn đã ở cùng ký túc xá với tôi. Lúc đó là vào buổi trưa, mọi người đi ăn cơm gần hết nên tôi cũng không gặp được nhiều người. Cái Vân, một cô bé chín chắn, đậm người cứ bần thần rằng tôi thông báo quá đột ngột thế này làm nó trở tay không kịp. Nó vốn là đứa sâu sắc và chu đáo nên vô cùng áy náy với việc đi xa như thế này mà lại chẳng có kỷ vật gì. Tôi cũng không nói cho nó biết rằng trong hành lý của tôi có cả tấm bưu thiếp tự tay nó vẽ những cành hoa tím tặng tôi vào dịp sinh nhật vài tháng trước. Cuộc chia tay thật là vui vẻ. Mọi người có lẽ cho rằng tôi đi đến một tương lai tốt đẹp hơn. Hơn nữa, tôi cũng nghiệm ra rằng, cái cảm giác lưu luyến bùng phát chỉ bị chi phối khi có một lọai tàu xe nào đó chuyển bánh. Không có yếu tố “chuyển bánh”, người ta sẽ bình tĩnh hơn với sự chia ly. Thực sự những năm sau đó sống ở Sài Gòn tôi vẫn dành nhiều tình cảm cho những người bạn đã sống với tôi ở Thượng Đình.

Chiều tối ngày hôm đó chúng tôi khoan khóai bước lên đòan tàu để đi Vinh mà không biểt rằng đó là chặng đường êm ả nhất trong hành trình dài ngày của chúng tôi. Vì đòan có rất nhiều người nên chiếm hẳn mấy toa tàu và mọi người không phải chen chúc với hành khách thường. Mới đây thôi, lần nào đi tàu khách Hà Nội – Hải Phòng chúng tôi cũng bị chen lấn thiếu điều bị đè bẹp.

Tàu băng qua những phố phường đông đúc của Hà Nội. Tôi cảm thấy bồi hồi lưu luyến với cái thành phố lạ mà quen. Tại một ngã tư, tôi chợt nhìn thấy một người quen. Đó là anh Long, biệt hiệu Long “cò”, học trên tôi một lớp. Ngày xưa chuyện yêu đương trong trường phổ thông hiếm lắm nhưng trò gán ghép thì lại rất phổ biến. Cái lớp trên tôi ấy hiếm con gái nên các anh không ngần ngại “nhặt” các em gái lớp dưới gán cho nhau. Tôi bị gán với anh Long và các anh ấy đùa dai đến nỗi mỗi lẫn gặp anh Long tôi cúi đầu chạy chối chết. Nhưng thời điểm chia tay Hà Nội, anh này dường như là sứ giả của những gì gắn bó giữa tôi và Hà Nội nên tôi như muốn giữ lại hình ảnh thân quen này. Anh chàng không biết đến sự hiện diện của tôi, chống hai tay lên chiếc ghi đông, mắt chăm chú nhìn đòan tàu lao vun vút trước mắt. Tôi ngóai cổ nhìn anh cho đến khi góc phố đông đúc lùi xa tít. Đêm tối ập xuống rất nhanh và con tàu hùng hổ lao vào màn đêm đặc kịt.

Cùng với sự câm lặng của màn đêm, toa tàu cũng lặng xuống. Người lớn nhắc nhau nghỉ ngơi để lấy sức cho chặng đường dài. Tôi bắt đầu nghĩ đến miền đất mà tôi bỏ lại phía sau. Tôi mang cảm giác của cuộc chia tay không hẹn ngày trở lại. Xa xôi như vậy, biết bao giờ mới quay lại, gặp lại? Tôi bắt đầu thấy nhớ nó. Ngòai cửa sổ là đêm đen ôm trong lòng nó làng mạc của nông thôn miền Bắc. Chỉ sáng mai thôi, tất cả những thứ đó đã lùi xa vào quá khứ.

*

Ngày hôm sau, những chiếc xe ca rùng rình đưa chúng tôi qua vùng đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi”. Tuy nhiên sông La, sông Lam, sông Nhật lệ và những vùng núi hùng vĩ của Quảng Bình cũng để lại hình ảnh tuyệt đẹp trong tôi. Tôi chợt nhớ tới bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan khi tới vùng đèo vắng lặng uy nghi mà hữu tình này. Cái hùng vĩ đầy ăm ắp khiến ta thấy mình nhỏ bé trước thiên nhiên kỳ diệu.

Và đây, chúng tôi đang đi qua vùng chiến sự cũ. Nói là cũ nhưng dấu vết của chiến tranh vẫn còn tươi nguyên. Xung quanh là một khỏang không câm lặng không một dấu vết của cuộc sống. Chỉ có những đòan xe ngược chiều nhau phủ đầy bụi bặm của thời chiến. Cái được gọi là đường chỉ là những rẻo đất lồi lõm hằn những vết bánh xe. Xe chồm lên chồm xuống rồi nghiêng bên nọ ngả bên kia. Tôi không nhớ có ai bị nôn ọe không nhưng hình như mọi người đều cắn răng chịu đựng. Tài xế dặn mọi người ngồi im để xe giữ cân bằng. Mọi người đều cảm kích nỗi gian truân của những người lính phải trải qua những ngày chiến tranh. Mấy ông bố bà mẹ quay qua nói với tụi nhỏ, “tụi bay bây giờ là sướng lắm đó”. Cảm giác bình yên chỉ đến với chúng tôi khi có đòan xe chở các anh lính từ Nam ra. Rất dễ nhận ra họ, những người may mắn sống sót trở về. Đồng phục của họ bây giờ ngòai bộ quần áo xanh lá cây ra là khuôn mặt tràn đầy hạnh phúc, là con búp bê sặc sỡ giống nhau như lột gắn bên sườn chiếc ba lô. Có lẽ họ cũng dễ dàng nhận ra chúng tôi, những chiếc xe chở cả con nít băng qua vùng chiến sự chỉ là những người hồi hương. Hai đòan hồi hương ngược chiều nhau, các anh lính miền Bắc trở về quê sau chiến tranh và chúng tôi, những người Nam trở về quê sau khi đất nước thống nhất. Có lẽ thời điểm đó chúng tôi là những người hạnh phúc nhất. Hai đòan xe tươi cười với nhau, vẫy chào nhau. Và tôi đã gặp rất nhiều đòan xe như vậy, chúng cho tôi cảm giác chiến tranh đã lùi xa.

Tuy nhiên càng đi sâu vào vùng chiến sự dòng xe hai chiều ngày càng dày đặc. Đi cùng chiều với chúng tôi còn có nhiều đòan xe chở lính. Họ đội mũ lẫn lộn sao vàng với sao nửa xanh nửa đỏ, cờ của Mặt Trận Giải Phóng. Còn có cả những đòan xe vận tải dài dằng dặc chẳng biết chở gì mà có vẻ nặng lắm. Ở đây đã xảy ra cuộc chen ngang bằng xe mà cả đời tôi lẫn đời nhiều người chắc chẳng thấy đến lần thứ hai. Có một đọan đường bị sự cố mà đợi đến khi thông được thì đòan xe hai bên phải nằm chờ đến mấy ngày. Khi đường đã thông, để giải thóat hàng cây số xe nối đuôi nhau khiến cuộc di chuyển chậm như rùa bò. Những xe chỉ chở lính nhẹ tênh bèn nhanh nhẩu vượt lên trước khiến một chiếc xe vận tải vội chắn ngang đường không cho xe sau tiến lên để họ thông hết đòan xe của họp. Kẹt nỗi trời đã về chiều và đòan xe của chúng tôi phải đến trạm đón tiếp Bắc Nam vào đêm đó. Trên xe đầy con nít và người lớn tuổi không thể để nhịn đói giữa đồng không mông quạnh được. Một cô giáo già được cử ra thương lượng với các anh bộ đội vận tải. Các anh không thể từ chối nên đành lùi xe lại nhường đường cho xe chúng tôi. Và chính lúc đó cuộc chen lấn xô đẩy bắt đầu xảy ra y như ở quầy bán vé rạp xem phim những lúc có phim hay mà lại khan hiếm vé hay ở quầy bán vé ở bến xe vào dịp nghỉ Tết. Nhưng các nhân vật chen lấn không phải người mà là những chiếc xe! Một chiếc xe lao tới, một chiếc khác cũng nhào lên ép nó sang một bên rồi vọt lên trước. Các xe khác ào ào xông lên ép nhau lượn qua phải rồi sang trái. Các xe này đều cho mọi người xuống hết để mình các anh xế “chiến” với nhau. Chỉ lạ là chẳng có xe nào ngã chổng vó cả. Các anh bộ đội vận tải sau một hồi la hét, dùng các lọai vật cản cũng đưa được đòan xe của chúng tôi qua ải. Chúng tôi thóat hiểm dông một mạch, để lại các anh vận tải chiến lại với đám bộ binh vô tổ chức kia. Đúng là cười ra nước mắt!

Xe chúng tôi về đến trạm Bắc Nam thì đã quá nửa đêm. Các cán bộ trạm thở phào nhẹ nhõm. Khổ thân họ, lo lắng mấy tiếng đồng hồ liền không biết việc gì đã xảy ra với chúng tôi. Đây là vùng có thể nói gần như là “chết”. Xung quanh không cây cối, không nhà dân, chỉ có gió hun hút phần phật trong đêm nhờ nhờ ánh trăng yếu ớt. Và lạnh.

Đói và rét khiến chúng tôi lặng lẽ ăn rồi ngả lưng, chẳng còn nghĩ gì dến ngày mai, ngày chúng tôi sẽ vượt giới tuyến nổi tiếng một thời để tiến vào vùng đất phía Nam của Tổ quốc.
(Còn tiếp…)

Tháng Năm 1, 2013 - Posted by | Tản văn

4 phản hồi »

  1. Cám ơn Châu Sa bằng những ký ức sống động đã đưa tôi quay trở lại những ngày này 38 năm về trước.
    Hôm 26/4/2013 trên đường đi ô tô từ Đà Lạt về TPHCM tôi cũng bâng khuâng nhớ tới những sự kiện dồn dập xảy ra trong những ngày cuối tháng 4 này 38 năm về trước khi đi qua Xuân Lộc, Trảng Bom về TPHCM. Đối với nhiều thế hệ người Việt Nam đó là những năm tháng không thể nào quên, những năm tháng của nụ cười và nước mắt !

    Phản hồi bởi phuongnguyentm | Tháng Năm 1, 2013 | Trả lời

  2. Bai viet rat hay! Thanks CS for this!

    Phản hồi bởi TK | Tháng Năm 2, 2013 | Trả lời

  3. Cám ơn các bạn đã động viên. Bận quá nhưng vẫn cố “tốc ký” cho kịp “thời vụ”. Bài bị ngắt không phải để câu mà vì mới viết được đến đó thì đã là tối 1/5 mất rồi. Tuy vậy nó ngẫu nhiên dừng ở đúng chỗ cần dừng. Mình viết những bài như vậy không phải vì già rồi chỉ thích hoài cổ mà thấy đây là đề tài khá hấp dẫn, nhiều người trẻ cũng thích, có khi họ còn thích hơn cái đám già ở đây!

    Dịp nghỉ lễ này dài ngày nên bà con đi chơi dữ quá, tràn sang cả đây khiến giá hotel tăng vọt. Hy vọng bà con chia sẻ trải nghiệm những ngày vui chơi cho những người “lao dộng cật lực chẳng có ngày nghỉ” như mình đây. Minh Phương đi Đà Lạt chắc chụp nhiều ảnh đẹp, “bốt” lên đây đi!

    Phản hồi bởi chausatran | Tháng Năm 3, 2013 | Trả lời

  4. Cám ơn CS đã cho mình biết thêm đôi chút về những ngày đầu sau giải phóng, mặc dù rất sơ lược. Không hiểu sao họ ít viết về giai đoạn đó thế? Trước khi sang LX mình chỉ biết về MN qua hàng hoá người ta mang ra Bắc như TV, đái caset, băng đĩa, xe máy, mỳ tôm …

    Phản hồi bởi Nguyen Hung Thao | Tháng Năm 6, 2013 | Trả lời


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: