Lớp A0 – Khóa 9

They came, they saw and they ….

20 nhà khoa học còn sống, có ảnh hưởng nhất đến thế giới.

Cuối năm thường là thời gian để người ta nhìn lại và tổng kết các sự kiện diễn ra trong năm. TBT đã thả các bông tuyết lên blog của A0khoa9 từ lâu rồi. Trong khi chờ đợi ban biên tập tổng kết blog, mình xin mạn phép đưa ra một loại tổng kết khác, góp nhặt từ nhiều nguồn khác nhau.

%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%%

Ngày nay các nhà khoa học có lẽ là những người có ảnh hưởng nhất đến thế giới của chúng ta không chỉ bởi họ đã đem lại những tiến bộ vĩ đại trong y học, trong công nghệ … mà còn bởi họ giúp chúng ta hiểu biết một cách sâu sắc, thế giới quanh ta là gì, nó vận hành như thế nào.Vai trò của các nhà khoa học trong việc định hình thế giới quan của nhân loại là không thể thay thế.

Trang web bestscholar đã đưa ra một danh sách 20 nhà khoa học còn sống có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới thế giới của chúng ta. Mặc dù chẳng mấy ưa các loại ranking, nhưng trong này có tới tận 5 nhà toán học nên phải khoe cái.

1. Persi Warren Diaconis, sinh năm 1945. Ông hiện là giáo sư toán, chuyên ngành xác suất thống kê tại đại học Stanford. Trong cuộc đời của mình, ông từng là một ảo thuật gia chuyên nghiệp, nhiều năm kiếm sống bằng nghề làm ảo thuật, với những thủ thuật chia bài, tráo đồng tiền. Không biết có phải vì vậy mà khi quay trở lại làm toán, ông đã chọn lý thuyết xác suất, nghiên cứu tính ngẫu nhiên của việc tráo các quân bài, hay tung các đồng xu. Ông là người đã hợp nhất lý thuyết nhóm với chuyên ngành thống kê học, và đã làm thay đổi căn bản cách hiểu của chúng ta về tính ngẫu nhiên (randomness). Năm 2004 mình ngồi nghe bài giảng của ông này tại Berkeley mà vẫn tưởng đang nghe một ảo thuật gia trình bày.

P. Diaconis

2. Donald Ervin Knuth, sinh năm 1938. Hiện ông đang là giáo sư danh dự tại đại học Stanford. Ông thực ra là một computer scientist – một từ mà mình không biết dịch ra tiếng Việt là gì. Ông là tác giả của bộ sách nhiều tập The Art of Computer Programming rất nổi tiếng, và được coi là cha đẻ của ngành phân tích thuật toán, thành phần quan trọng nhất trong lý thuyết độ phức tạp tính toán. Có thể nói các công trình của ông đã thay đổi cách nhìn nhận về lĩnh vực của các khoa học máy tính. Bên cạnh những đóng góp cốt lõi cho lý thuyết thuật toán, ông cũng là người đã sáng tạo ra hệ soạn thảo TeX, mà ngày nay bất kỳ một người học toán nào đều phải biết và dùng tới. Và có lẽ với dân làm toán thì người ta thường gắn liền D. Knuth với TeX chứ không phải với computer sciences.

D. Knuth

3. Roger Penrose, sinh năm 1931, hiện là giáo sư danh dự tại Viện Toán thuộc trường Oxford. Là một nhà vật lý toán, ông đã có những công trình đôt phá không chỉ trong lĩnh vực vật lý cơ bản mà còn cả trong mối liên hệ với xã hội học – ý thức của con người. Penrose được giới khoa học biết đến bởi nững phát minh của ông trong vật lý toán, đặc biệt là những đóng góp của ông cho lý thuyết tương đối rộng và cosmology. Trong vô số các giải thưởng mà ông đã được nhận có giải Wolf ông nhận cùng với Stephen Hawking Định lý nổi tiếng Penrose–Hawking singularity theorems của 2 ông giúp chúng ta hiểu biết sâu hơn về vũ trụ, lỗ đen, bigbang,…. Cuốn sách The Emperor’s New Mind của ông chỉ có 248 trang mà rất khó đọc. Trong đó ông chứng minh rằng các định luật đã biết của Vật lý là không đủ để giải thích các hiện tượng của ý thức con người.

R. Penrose

4.  Andrew Wiles, người đã quá nổi tiếng với việc giải bài toán Phécma, tồn tại hơn 300 năm. Không cần phải nói nhiều về ông này. Nhưng mới đây (tháng 8/2012), nhà toán học Nhật bản Shinichi Mochizuki của trường Tổng hợp Kyoto mới đưa ra một chứng minh cho “giả thuyết ABC”, một giả thuyết nổi tiếng không kém, và sâu sắc hơn nhiều so với bài toán Phécma. Nếu chứng minh của Mochizuki là đúng thì bài toán Phécma có thể chứng minh trong vài dòng, chứ không phải là cả hàng trăm trang như công trình của Wiles.

andrew-wiles

5. Edward Witten, giáo sư vật lý toán tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton, Mỹ. Ông chính là người đã đặt ra nền tảng toán học cho lý thuyết dây. Ông cũng là nhà vật lý đầu tiên được nhận giải thưởng Fields danh giá của Hội Toán học thế giới vào năm 1990. Năm 2004, tờ Time đã bầu ông là nhà vật lý lý thuyết còn sống vĩ đại nhất. Những công trình của ông về lý thuyết dây đã đem lại những phát tiển vượt bậc trong tô pô, lý thuyết nút, … Năm 2002 tại đại hội toán học thế giới ở Bắc Kinh, khi nghe E. Witten trình bày, có đồng nghiệp đã bảo với mình rằng rất có thể Witten sẽ có Nobel prize trong … Kinh tế.

ed-witten

Advertisements

Tháng Mười Hai 15, 2012 Posted by | Danh nhân, Tổng hợp | 5 phản hồi

Chính khách và ngôn ngữ cử chỉ

Lời dẫn: BBT nhận được mail của Nguyễn Hùng Thao, trong đó có đoạn sau:

<<

 Chào Văn Thành.

Cậu khỏe không? Chắc cậu bận lắm, không thấy viết cho Blog của lớp.
………
Thấy trên Blog có vài bài thông tin một chiều về Putin, vì vậy mình muốn viết về một chiều khác, nhưng vì khả năng diễn giải của mình không được sắc bén lắm, và không muốn mọi người nghĩ là mình không khách quan nên mình muốn cậu xem bản dịch một bài bào trên báo Thanh niên Nga do một người dịch ra trên diễn đàn “nuocnga.net“. Nếu cậu cảm thấy ổn thì cậu hãy cho đăng. Mình đã viết thư xin phép người dịch và nhận được sự đồng ý.
Cám ơn,
Thao 
>>
BBT chỉ đặt lại tiêu đề và đăng lại toàn văn bài viết  trên. Mời các bạn cùng tham gia đánh giá, phản biện với Thao nhé!
 ————————————————————

Bài này do bạn Đan Thi dịch từ báo Thanh niên Nga (nguồn: http://kp.ru/daily/25863.3/2829558/).

Bài dịch: http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?p=107478#post107478

Putin, Obama và những chính khách nổi tiếng dưới cái nhìn ngôn ngữ cử chỉ

Đan Thi Moscow dịch theo báo NgaChuyên gia tâm lý học uyên bác Allan Pease nhận xét rằng “Putin hoàn toàn tự tin về mình, còn Obama có khả năng thuyết phục giống như Hitler”.
Trên thế giới người ta gọi Allan Pease là “quí ngài đọc ngôn ngữ cơ thể”. Các thám tử cầu cứu ông để nhờ phát giác bọn tội phạm, còn các chính trị gia, doanh nhân và người dẫn chương trình truyền hình tìm đến Allan Pease để tư vấn xây dựng hình ảnh hoặc đơn giản là học cách giữ bình tĩnh trước công chúng và ống kính.

Nhà báo nêu câu hỏi truyền thống:
– Ông đến Saint-Peterburg lần đầu tiên à?
Và câu trả lời bất ngờ:
– Lần thứ hai. Lần đầu là năm 1991, tôi được mời đến điện Smolnyi để tiến hành khóa học cơ bản cho các chính trị gia, dạy họ biểu đạt môt cách vững vàng trước truyền hình phương Tây. Hội thảo do Thị trưởng Anatoly Sobchak triệu tập. Còn người phó của ông ấy là Vladimir Putin.
Tôi nhớ rất rõ là khi Putin bước vào khán phòng, tất cả đều im bặt. Họ biết rằng Putin từng làm việc trong KGB.
– Thế còn ông?
– Tôi cũng hiểu. Các tình báo viên có sự đào tạo đặc biệt. Nhưng sau đó tôi nhìn thấy ở ông không chỉ một sĩ quan KGB, mà còn là một con người chân chính.
Tôi kể cho bạn mẩu chuyện Giáng Sinh nhé. Hồi đầu những năm 2000, gia đình tôi quây quần ăn mừng Giáng Sinh. Bỗng trên chương trình truyền hình chiếu cảnh có Putin. Tôi hỏi cha vợ: “Bố có nhớ ông này không?” Cha vợ tôi điềm nhiên gật đầu: “Nhớ chứ, ông này đã chỉ cho tôi toilet ở đâu”. Tất cả đều kinh ngạc. Vợ tôi thốt lên: “Đây là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới, mà bố nói chuyện toilet gì chứ!?”. Ông bố vợ từ tốn: “Thì sao nào, đây là con người có trái tim lớn”. Hóa ra khi tôi và vợ rời đi để chuẩn bị cho lớp học trong Smolnyi, cha vợ tôi loay hoay kiếm nhà vệ sinh. Ông cụ vừa trải qua cơn nhồi máu, và cứ khỏang 1 giờ lại cần ra WC…Bố vợ tôi lạc lối trong những dãy hành lang mênh mông của điện Smolnyi, và có một người đàn ông đến gần, hỏi xem có cần giúp đỡ, rồi dắt cụ đến chỗ đang tìm. Chẳng phải vị quan chức nào cũng xếp mọi chuyện để chạy đến giúp đỡ một người bệnh!
– Bây giờ Putin có thay đổi gì chăng?
– Có lẽ là không … Ấn tượng trước công chúng vẫn giống như hồi đó.
– Ông đã dạy ông ấy điều gì ở khóa học cơ bản?
Alan áp những ngón của bàn tay này đỡ lấy ngón của bàn tay kia.
– Cử chỉ này, theo qui luật ngôn ngữ cơ thể, là của những người tự tin. Và ông ấy hay sử dụng. Tạo ra cho những người khác ấn tượng rằng bạn biết chính xác những gì mình đang nói, những gì bạn đang làm và toàn quyền kiểm soát tình hình. Thậm chí ngay cả khi trên thực tế bạn không có chút ý tưởng nào về việc cần phải làm gì.
– Ông đã gặp Tổng thống Nga đầu tiên Boris Yeltsin bao giờ chưa?
– Năm 1991, chúng tôi đã tiến hành hội đàm để xây dựng hình ảnh của ông ấy. Phái viên của tôi đã đến điện Kremlin và thông báo rằng Yeltsin không có khả năng học ngôn ngữ cử chỉ. Nói chung, rất khó để dạy ông ấy cái gì. Thế nhưng người của tôi cũng báo tin là có ông Sobchak quan tâm đến dịch vụ của chúng tôi. Để làm gì và tiếp theo ra sao thì tôi đã kể rồi đấy.

Allan Pease còn nhớ cả cô con gái của Sobchak là Ksenia. Ông đã gặp cô trong một chương trình giao lưu.
– Tôi được mời đến như một chuyên gia để xác định xem liệu cô bảo mẫu bị tình nghi hay đánh trẻ có nói dối không. Trong phòng có cả Ksenia. Nhưng lúc đó chúng tôi không chuyện trò gì.
– Ksenia cũng sử dụng dịch vụ của chuyên gia ngôn ngữ cử chỉ?
– Ồ, cô ấy là diễn viên và rất thạo ngôn ngữ ký hiệu. Rất khó để nói khi nào cô ấy là con người thực còn khi nào thì cô ấy diễn. Cô gái có thể nói dối, thế nhưng khán giả sẽ cảm thấy rằng mỗi lời cô ấy đều là sự thật.
– Lần này ông sang Nga là để tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách ư?
– Không. Chuyến đi dành cho các độc giả. Với các chính trị gia, kẻ giết người, khủng bố hay buôn lậu ma túy, tôi không làm việc nữa. Bởi có những mối đe dọa nhắm đến gia đình tôi.

Sự kết hợp linh họat của tay, môi và mắt

Dưới nhãn quan ngôn ngữ cử chỉ, Allan Pease bình luận về hành vi của các chính trị gia nổi tiếng khi xuất hiện trước công chúng.
Putin: Cử chỉ của sự tự tin và kiểm soát tình hình. Cho người đối thoại biết về bản thân ông và sự đào tạo tình báo chuyên nghiệp. Putin biết làm chủ bản thân và kiểm soát mỗi động tác cơ thể.


Obama là diễn giả giỏi. Hành vi của ông ta trước công chúng có sức thuyết phục như của Hitler trước đây. Nhưng ở Obama những chuyển động uyển chuyển hơn nhiều. Với cử chỉ này, ông phô trương với khán giả rằng: “Tôi yêu mến các bạn”, – và mọi người tin ông ta.


Khi ở trước đối tác, chính khách và cả doanh nhân nữa, nên tránh những cử động từ cằm trở lên. Yeltsin nói một đằng, nhưng biểu đạt cử chỉ lại hòan tòan khác. Kết quả là người ta không thể hiểu ông ấy. Cử chỉ của Yeltsin, xin lỗi, giống như động tác của một người chuyếnh choáng hơi men.


Bush cũng giống Yeltsin, là người không biết xử sự đúng mực trước công chúng. Đặc tính cử chỉ như những người xuất thân từ lớp thấp nhất. Trước khán giả, Bush gợi lên ấn tượng về một con người thiển cận và không thông minh.


Về hành vi trước công chúng thì Clinton tương tự như Obama. Ông có những chuyển động rất đẹp, cuốn hút khán giả. Và thậm chí trong vụ bê bối với Monica Lewinsky, người ta vẫn tin rằng phần lỗi thuộc về cô gái chứ không phải là Tổng thống. Giả sử Bush ở vào vị trí của Clinton trong câu chuyện tình ái này thì tôi nghĩ hẳn ông ấy sẽ bị ngồi sau song sắt.

Mỗi cử chỉ của Hitler đều khẳng định lời nói. Diễn từ của Hitler có thể sánh với bước quân hành trong tiếng nhạc, còn cử chỉ giống như nhịp trống. Khán giả biết được Hitler định hướng tới đâu và ông ta muốn gì. Và bởi thế những tuyên ngôn của Hitler khiến người ta tin.

——-//——-


Allan Pease sinh năm 1952 tại Australia. Là thành viên Cộng đồng Nghệ thuật Hoàng gia, Viện Quản lý Australia và Hiệp hội nhà văn. Cuốn sách đầu tiên “Ngôn ngữ cử chỉ cơ thể” được bán khắp thế giới với hàng triệu bản. Allan Pease là tác giả của 12 tập sách. Tiến hành các seminar hội thảo tại 30 quốc gia, trong số khách hàng của ông có IBM, McDonalds, BBC, Mazda, Suzuki và v.v… 

Tháng Tư 13, 2012 Posted by | Danh nhân | 12 phản hồi

Tiền Học Sâm

Tiền Học Sâm (Tsien Hsue-Shen-THS) là cha đẻ của Phòng thí nghiệm phản lực tại ĐH CalTech, là nhà khoa học có đóng góp quan trọng trong chương trình tên lửa và không gian, cả ở Mỹ lẫn Trung Quốc (cha đẻ của tên lửa Thần Châu và ngành vũ trụ TQ).

Tiền-Học-Sâm sinh năm 1911 tại Hàng Châu (Hangzhou), mất ngày 31/10/2009 tại Bắc Kinh, Trung Quốc, thọ 98 tuổi.
Ông tốt nghiệp Đại học Giao thông Thượng Hải (Jiao Tong Shanghai University) năm 1934 với bằng kỹ sư cơ khí, chuyên sâu về điều hành hệ thống đường sắt.
Tháng Tám 1935, ông nhận học bổng Boxer Rebellion Indemnity Scholarship sang Mỹ theo học tại ĐH Công nghệ Massachusetts (Massachusetts Institute of Technology – MIT) và lấy bằng Master of Science tại đó năm 1936. Ông rất ấn tượng về phương phát giảng dạy chú trọng thực nghiệm ở Mỹ, ngược với xu hướng chỉ học lý thuyết thịnh hành ở Trung Quốc thời bấy giờ (và có lẽ vẫn còn cho đến ngày nay).
Với thế mạnh về tóan, Tiền-Học-Sâm tìm đến CalTech (California Institute of Technology) để học Ph.D.  dưới sự hướng dẫn của GS Theodore von Kármán nổi tiếng.
Ông lấy bằng Ph.D. tại Caltech năm 1939 với đề tài về Lý thuyết vật thể mảnh tại tốc độ cao. Sau khi tốt nghiệp, Tiền-Học-Sâm ở lại làm việc cho CalTech. Năm 1949, ông trở thành GS danh hiệu Robert H. Goddard (Chair Professor), chuyên ngành phản lực. Ông trở thành một trong những nhà khoa học hàng đầu về tên lửa ở Mỹ.
Năm 1943, ông cùng 2 nhà khoa học khác ở CalTech viết đề xuất cho ra đời  Phòng thí nghiệm Động cơ phản lực (Jet Propulsion Laboratory). Chương trình này nghiên cứu các lọai tên lửa để đối phó với sự phát triển tên lửa V-2 của Đức trong Thế chiến thứ II.  Do đó ông được coi là một trong những người sáng lập ra Phòng thí nghiệm phản lực nổi tiếng của trường CalTech. Năm 1949, GS von Kármán đã đề nghị Tiền-Học-Sâm trở thành giám đốc đầu tiên của Trung tâm phản lực tại CalTech (the Daniel and Florence Guggenheim Jet Propulsion Center at Caltech).
Sau chiến tranh, Tiền-Học-Sâm cùng thầy von Kármán phục vụ quân đội Mỹ với tư cách cố vấn. Von Kármán nói về Tiền-Học-Sâm như sau: “Ở tuổi 36, anh ấy đã là một tài năng không thể chối cãi. Công việc của anh đã thúc đẩy sự vượt lên của lĩnh vực khí động học tốc độ cao và phản lực”. Công việc mà  Tiền-Học-Sâm theo đuổi đã góp phần vào việc xây dựng hệ thống tàu con thoi của ngành vũ trụ tại Mỹ.
Thầy trò ông đã được gửi tới Đức để tìm hiểu tiến trình nghiên cứu cùng lĩnh vực của các nhà khoa học Đức sau thất bại của Đức quốc xã. Trong số nhà khoa học bị THS thẩm vấn có Wernher von Braun, cha đẻ của chương trình vũ trụ tương lai của nước Mỹ. Tạp chí Hàng không vũ trụ Mỹ (Aviation Week & Space Technology) đã nhận xét vui:  “Không ai ngờ,  rằng cha đẻ của chương trình vũ trụ tương lai của nước Mỹ đã từng bị vặn vẹp bởi cha đẻ của chương trình vũ trụ tương lai của Trung Quốc”. Tiền-Học-Sâm cũng được tạp chí này bầu là Person of the Year năm 2007.
Vào năm 1950, chính phủ Mỹ buộc tội ông thân cộng, đặt tên ông dưới vòng kiểm sóat dù không có bằng chứng rõ ràng. Khi ông tuyên bố sẽ về lại nước  Trung Hoa của Mao-Trạch-Đông, ông đã bị giữ lại ở một căn cứ hải quân. Các đồng nghiệp của ông trong giới hàn lâm, trong chính phủ, trong các ngành công nghiệp, đặc biệt trường CalTech phản đối dữ dội quyết định của chính phủ. Một quan chức cao cấp của Hải quân Mỹ đã tìm cách giữ ông lại Mỹ và nói rằng: “Thật là điều ngu xuẩn nhất mà đất nước này từng làm. Ông ấy chẳng cộng sản hơn tôi tý nào, và chúng ta đã đẩy ông ấy ra đi”. Chủ tịch trường CalTech, ngài Lee DuBridge, đã bay tới Washington DC để thảo luận về trường hợp của ông. Trường còn chỉ định một luật sư bảo vệ  ông. Luật sư  Grant Cooper sau này đã nói: “Cái việc chính phủ cho phép một thiên tài khoa học như vậy ra đi để cho nước Trung Hoa Cộng sản được hưởng thực sự là một tai họa của thế kỷ này”.
Dù vậy ông vẫn bị gần như quản thúc trong vòng 5 năm, khi hai chính phủ bí mật thảo luận về số phận của ông. Ông được dạy học trong thời gian này nhưng không được giao nghiên cứu.
Tháng Chín 1955, CP Mỹ cho phép ông quay về Trung Quốc để đổi lấy các phi công MỸ bị bắt giữ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Ông đã rời nước Mỹ để lại sự nuối tiếc lớn nơi bạn bè và đồng nghiệp. Và không bao giờ quay trở lại đó nữa.

Tại quê hương, Tsien tiếp tục nghiên cứu, dẫn dắt chương trình tên lửa và trở thành cha đẻ của ngành vũ trụ TQ. Ông đã lập ra Viện Cơ học ở Bắc Kinh và tuyển sinh viên gửi ngay sang Liên Xô, sau này gửi sang Mỹ, Đức và Nhật.
Tiền-Học-Sâm cũng trở thành thành viên được tin cậy trong chính quyền cũng như Đảng Cộng sản Trung quốc. Đương nhiên ông được coi là nhà khoa học được vinh danh nhất của Trung quốc.
Năm 1979 Caltech trao cho ông danh hiệu Cựu Sinh viên xuất xắc (Distinguished Alumni Award). Trường cũng gửi cho ông những tài liệu về công việc ông đã làm tại CalTech, những tư liệu quí cho thư viện mang tên ông và Viện Cơ học do ông thành lập. Ông từ chối lời mời thăm nước Mỹ nhưng luôn bày tỏ tình cảm với bạn bè cũng như người dân Mỹ nói chung.
Tiền-Học-Sâm về hưu năm 1991 và sống lặng lẽ yên bình tại Bắc Kinh. Với sự phóng thành công tên lửa Thần Châu (Shenzhou V) năm 2003, những công trình nghiên cứu của ông thực sự có giá trị với ngành vũ trụ Trung quốc. Ông may mắn được quan sát sự kiện này từ trên giường bệnh viện.
Năm 2008, China Central Television bầu Tiền-Học-Sâm vào danh sách 11 người có ảnh hưởng tinh thần lớn nhất TQ.
Tháng Bảy 2009, The Omega Alpha Association bầu ông trong 4 thành viên danh dự của cộng đồng công nghệ danh giá quốc tế.
Khi Tiền-Học-Sâm mất vào ngày 31/19/ 2009, Trường CalTech tưởng niệm khá trọng thể. Dù CalTech chiếm giữ khá nhiều giải Nobel và ông đã rời nơi đó từ lâu, tên tuổi của Tsien Hsue-Shen không bao giờ phai mờ ở nơi thánh địa của ngành hàng không và vũ trụ.

*
Có điều băn khoăn nho nhỏ:
1. THS ra đi, ngành vũ trụ của Mỹ mất một tài năng nhưng đã lấp bằng những tài năng khác. Và Mỹ đã tiến bộ vượt bậc trong thời gian THS phục vụ TQ. Ngành vũ trụ TQ dù có THS vẫn đỳ đẹt sau cả LX. Việc ông phải quay về TQ thực sự mất mát cho cả ông.
2. Việc 2 nhà vật lý thân cộng Julius & Ethel Rosenberg trao tài liệu về bom nguyên tử cho LX có lẽ cũng giải thích phần nào nỗi lo sợ của CP MỸ. Đồng thời ta cũng phải tự hỏi LX được gì từ việc đó trong khi thế giới và nước Nga bị rác thải hạt nhân do sự bất cẩn của CP LX gây ra.

Tháng Mười Một 3, 2011 Posted by | Danh nhân | , | %(count) bình luận

Ivan Kramskoi

Chân dung tự họa của Ivan Kramskoi, 1867.

Ivan Nikolaevich Kramskoi (8/6/1837 – 6/4/1887) là một họa sĩ và nhà phê bình nghệ thuật Nga. Ông là lãnh tụ uyên bác của Trào lưu nghệ thuật dân chủ Nga giai đoạn 1860-1880.

Cuộc đời

Kramskoi xuất thân từ một gia đình thư lại nhỏ tại thành phố Ostrogozsk, tỉnh Voronhezh. Từ 1857 tới 1863 ông theo học tại Viện Hàn lâm Nghệ thuật St. Petersburg. Ông đã phản đối nền nghệ thuật hàn lâm và là người khởi xướng cho sự kiện có tên gọi “Cuộc phản loạn của 14 người”, kết thúc bằng quyết định trục xuất một nhóm sinh viên tốt nghiệp ra khỏi Viện Hàn lâm vì họ đã phản đối vẽ tranh theo yêu cầu của đề thi. Những người này đã tổ chức ra Hiệp hội Họa sĩ St-Peterburg (“Артель художников”).

Tư tưởng nghệ thuật

Chịu ảnh hưởng bởi ý tưởng của các nhà dân chủ cách mạng Nga, Kramskoi đã khẳng định trách nhiệm cao cả của người nghệ sĩ đối với công chúng, các nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực, cùng thực chất đạo đức và tính dân tộc của nghệ thuật.. Ông đã trở thành một trong những nhà sáng lập và nhà tư tưởng chính của Công ty Triển lãm Nghệ thuật Lưu động. Trong những năm 1863–1868, Ông dạy học tại trường vẽ dành cho tầng lớp thượng lưu để quảng bá cho các nghệ thuật ứng dụng. Ông đã lập nên phòng tranh trưng bày chân dung của các nhà văn, nhà khoa học, nghệ sĩ và các nhân vật nổi tiếng quan trọng của Nga (Lev Nikolaevich Tolstoy, 1873, Ivan Shishkin, 1873, Pavel Mikhailovich Tretyakov, 1876, Mikhail Saltykov-Shchedrin, 1879, Sergei Botkin, 1880), trong đó sự giản dị truyền cảm của bố cục và sự rõ ràng của họa thuật làm nổi bật các yếu tố tâm lý sâu sắc của nhân vật. Các hình mẫu dân chủ lý tưởng của Kramskoi đã có được sự thể hiện sáng ngời nhất của mình trong những bức chân dung ông vẽ những người nông dân. Những tác phẩm này đã mô tả sinh động sự phong phú của các chi tiết tính cách trong các đại diện cho những con người bình thường.

Tác phẩm tiêu biểu

 Trong một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của Kramskoi, Đức Chúa Jesu trên sa mạc (1872, Bảo tàng nghệ thuật Tretyakov), ông đã tiếp tục truyền thống nhân văn của Alexander Ivanov bằng cách xử lý một chủ đề tôn giáo dưới dạng đạo đức-tâm lý. Ông đã thấm đẫm hình ảnh Đức Christ của mình bằng các kỹ năng đầy ấn tượng trong sự thể hiện tâm lý và sinh động sâu sắc, gợi nên mẫu mực lý tưởng về sự tự hy sinh anh hùng Chúa.

Đức Chúa Jesu trên sa mạc, 1872

Cùng với khao khát mở rộng tính diễn cảm mang ý thức hệ cho các hình ảnh của mình thể hiện, Kramskoi đã sáng tạo ra nền nghệ thuật tồn tại trên đỉnh cao của hội họa chân dung và mô tả cảnh sinh hoạt đời thường (“Nekrasov trong giai đoạn ‘Những bài hát cuối cùng,'” 1877–78; “Người đàn bà xa lạ” 1883; “Nỗi buồn khôn nguôi” 1884; tất cả đều được trưng bày tại Phòng trưng bày nghệ thuật Tretyakov). Những bức họa này lột tả sự phức tạp của các nhân vật cùng với những tình cảm chân thành, tính cách và số phận của họ. Khuynh hướng dân chủ trong nghệ thuật của Kramskoi, các phê phán sắc bén của Ông về nó, và sự tìm kiếm bền bỉ các tiêu chí khách quan chung của Ông cho việc đánh giá nghệ thuật đã gây một ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển của nền nghệ thuật và thẩm mỹ dân chủ tại Nga trong 1/3 sau cùng của thế kỷ 19.

“Người đàn bà xa lạ” 

 “Người đàn bà xa lạ”, 1883

 Có lẽ đây là tác phẩm ấn tượng nhất của  Ivan Kramskoi đối với nhiều người Việt nam. Từ những năm 60-70 của thế kỷ trước, những bản sao, hoặc ảnh chụp của “Người đàn bà xa lạ” được treo ở nơi trang trọng nhất của các gia đình Hà nội có người thân đã từng du học ở nước Nga. Hình như đằng sau vẻ mặt kiêu sa, đài các với ánh mắt hững hờ của cô tiểu thư kia vẫn ẩn dấu vài nét hoang dã, hồn nhiên và táo bạo của một cô thôn nữ vùng ngoại Kavkaz, do số phận run rủi mà phải cố hòa đồng với cuộc sống thành thị xa lạ! Tự nhiên có sự liên tưởng đến người đẹp Bella trong tác phẩm “Anh hùng thời đại” của thi hào Nga Mikhail Yuryevich Lermontov !

 

Bác sĩ Rauhphus – Chân dung vẽ dở , 1887   

Ivan Kramskoi mất ngày 6 tháng 4 năm 1887 trong khi đang vẽ chân dung của Bác sĩ Rauhphus  với cây cọ vẽ vẫn trên tay. Các tác phẩm của Ông là hiện thân cho những ý tưởng đạo đức và xã hội cao cả của thời đại mình. Đối với Ông, chân lý và vẻ đẹp nghệ thuật, các giá trị đạo đức và thẩm mỹ là không thể tách rời. Các tác phẩm của Ông có ảnh hưởng to lớn lên ý thức hệ của những người đương thời với Ông. Cho tới ngày nay chúng vẫn làm người ta xúc động, vì quan điểm của người nghệ sĩ đối với cuộc sống được dựa trên tình yêu và lòng tôn trọng con người, trên chính niềm tin của Ông vào chân lý và lẽ công bằng.

(Tổng hợp từ nhiều nguồn) 

Băng Tâm, tháng 5, 2011 

Tháng Năm 22, 2011 Posted by | Danh nhân | | 37 phản hồi