Lớp A0 – Khóa 9

They came, they saw and they ….

Sách mới của Đỗ Thiên Kinh

Giới thiệu sách mới:

Hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay (Qua những cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam 2002-2004-2006-2008)

Phạm Đỗ

Nhà xuất bản Khoa học xã hội vừa xuất bản cuốn sách: “Hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay (Qua những cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam 2002-2004-2006-2008)” của tác giả Đỗ Thiên Kính (2012). Có thể tóm lược một số nội dung chủ yếu của cuốn sách như sau:

  1. Địa vị kinh tế-xã hội cao thấp giữa các tầng lớp xã hội và mô hình kim tự tháp về hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam

Dựa trên tiêu chuẩn phân nhóm là nghề nghiệp và sự sắp xếp thứ bậc cao thấp theo tiêu chuẩn tổng hợp về địa vị kinh tế-xã hội, công trình đã phân chia thành 9 tầng lớp cơ bản trong xã hội Việt Nam ngày nay từ bộ số liệu VHLSS 2002, 2004, 2006, 2008. Tiếp theo, có thể nhóm gộp từ 9 tầng lớp thành 3 tầng lớp xã hội lớn hơn. Đó là các Tầng lớp cao (bao gồm các tầng lớp thứ 1, thứ 2, thứ 3), Tầng lớp giữa (gồm các tầng lớp thứ 4, thứ 5, thứ 6, thứ 7) và Tầng lớp thấp (gồm các tầng lớp thứ 8, thứ 9). Trong đó, tầng lớp cao chiếm hữu và kiểm soát nhiều loại nguồn lực của xã hội hơn cả, còn tầng lớp thấp có ít nguồn lực nhất. Tóm lại, sơ đồ tổng hợp về địa vị kinh tế-xã hội cao thấp giữa các tầng lớp xã hội ở Việt Nam như sau:

Mô hình của hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Namtrong những năm vừa qua có hình dạng “Kim tự tháp” với đa số nông dân có mức sống thấp nhất nằm ở dưới đáy kim tự tháp. Mô hình này bao chứa trong nó quá nửa dân số là các tầng lớp của xã hội truyền thống (tiểu thủ công nghiệp và nông dân). Các tầng lớp đại diện cho xã hội công nghiệp còn nhỏ bé (doanh nhân, chuyên môn cao, nhân viên). Đây là mô hình của xã hội chưa hiện đại, mà đang trong quá trình chuyển đổi sang xã hội công nghiệp. Đây là cơ sở khoa học chứng tỏ rằng, khi xem xét dưới góc nhìn về các thành phần và hình dạng của cấu trúc xã hội thì Việt Nam khó có thể đạt được mục tiêu trở thành cơ bản là một nước công nghiệp vào năm 2020. Bởi vì khi trở thành một nước công nghiệp, thì các tầng lớp đặc trưng cho xã hội hiện đại phải thể hiện rõ và chiếm tỉ lệ đông đảo, còn các tầng lớp của xã hội truyền thống (đặc biệt là nông dân) chỉ còn tỉ lệ nhỏ bé. Trong mô hình trên, tầng lớp Lãnh đạo giữ vai trò lãnh đạo xã hội (chứ không phải là công nhân).

Một điều đáng quan tâm rằng, các tầng lớp ở phía trên đỉnh tháp phân tầng thường có lợi ích gắn liền với khu vực kinh tế nhà nước, còn những tầng lớp ở dưới đáy tháp phải tự lo lấy cuộc sống cho mình dựa vào kinh tế hộ gia đình. Điều này cũng được thể hiện bởi một tỉ lệ lớn các tầng lớp ở phía trên đỉnh tháp phân tầng thường là cán bộ công chức nhà nước, còn những tầng lớp khác thì không như vậy.

Nếu so sánh với xã hội ViệtNamtruyền thống trong lịch sử, thì trật tự/thứ bậc giữa các tầng lớp xã hội hiện nay đã có sự thay đổi. Tầng lớp thợ thủ công và tiểu thương (“con buôn”) trước kia được xếp ở vị trí cuối cùng trong xã hội (Sĩ – Nông – Công – Thương), thì hiện nay hai tầng lớp này đã có vị trí cao hơn. Trong khi đó, tầng lớp nông dân chuyển xuống vị trí phía dưới trong bậc thang xã hội. Riêng tầng lớp Sĩ/trí thức (trong nhóm Chuyên môn cao) vẫn giữ địa vị cao từ trong xã hội truyền thống ngày xưa cho đến hiện nay. Ấy thế mà, tư duy lý luận chủ quan thời bao cấp (và vẫn còn ảnh hưởng đến hiện nay) lại xếp tầng lớp trí thức ở vào địa vị không như vậy.

  1. 1.     Tình trạng bất bình đẳng ngày càng tăng giữa các tầng lớp xã hội

Nói chung, sự bất bình đẳng về mức sống giữa các tầng lớp xã hội ngày càng doãng ra theo thời gian. Trong đó, các tầng lớp ở nửa phía trên “Kim tự tháp” có sự cải thiện về mức sống nhiều hơn so với các tầng lớp ở nửa phía dưới. Trái lại, các tầng nhóm ở dưới đáy lại có tỉ lệ hộ gia đình bị giảm sút mức sống là nhiều hơn so với các nhóm xã hội ở đỉnh tháp phân tầng. Tình trạng bất bình đẳng ngày càng tăng giữa các tầng lớp xã hội là sự bất bình đẳng ổn định bền vững đã ăn sâu vào cấu trúc xã hội và là thuộc tính của hệ thống phân tầng xã hội hình kim tự tháp ở Việt Nam. Như vậy, nhìn vào bản chất của hệ thống cấu trúc xã hội thì sự bất bình đẳng ở ViệtNamthuộc loại cao. Đây là cách nhìn rất cơ bản, bởi vì đó là cách nhìn về bất bình đẳng từ trong cốt lõi bản chất của hệ thống phân tầng xã hội hình kim tự tháp ở ViệtNam.

  1. 2.     Về sự di động xã hội trong hệ thống phân tầng

Về đại thể, sự di động xã hội giữa các tầng lớp ở Việt Nam diễn ra chủ yếu ở khu vực các tầng lớp xã hội truyền thống, mà không phải ở khu vực các tầng lớp xã hội hiện đại. Điều này có nghĩa rằng, sự hình thành các tầng lớp của xã hội hiện đại diễn ra còn chậm chạp. Thực trạng di động xã hội này là sự phản ánh quá trình chuyển đổi của cơ cấu kinh tế cũng vẫn còn chậm chạp. Khi xem xét nguyên nhân gây ra sự di động xã hội giữa các tầng lớp ở Việt Nam cho thấy rằng nguyên nhân thuộc về nỗ lực chủ quan của các thành viên là chính, còn nguyên nhân thuộc về những yếu tố khách quan chiếm phần nhỏ bé. Trong khi đó, xu hướng chung của các nước công nghiệp trên thế giới là nguyên nhân thuộc về những yếu tố khách quan là chính. Bởi vì, sự thay đổi của cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa sẽ quy định chủ yếu sự biến đổi về cấu trúc xã hội. Chỉ khi nào nguyên nhân tạo nên sự di động xã hội thuộc về những yếu tố khách quan là chính (tức là do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế) thì khi ấy sự thay đổi của cấu trúc xã hội mới là căn bản.

Trong bối cảnh chung của tư duy lý luận về các giai tầng xã hội Việt Namhiện nay, có thể nói rằng cuốn sách đã đưa ra một cách nhìn khoa học về xã hội ViệtNam dưới góc độ phân tầng xã hội. 


Tháng Ba 30, 2012 Posted by | Khái niệm, Tổng hợp | 7 phản hồi

Sức mạnh kinh tế của một thành phố

25 thành phố có quyền lực mạnh nhất về kinh tế trên thế giới

Richard Florida là Biên tập chính của tờ The Atlantic và là GS ĐH Toronto, Canada. Ông cùng đồng nghiệp tại đó thiết lập bảng danh sách 25 thành phố có tiềm lực kinh tế mạnh nhất dựa trên Chỉ sô tiềm lực kinh tế tòan cầu (Global Economic Power Index). Chỉ số này là sự tổ hợp của 3 tiêu chí: kinh tế (GDP), tài chính (chỉ số dành cho trung tâm tài chính tại đó: Global Financial Centers Index; đây là chỉ số nói lên tầm ảnh hưởng của của hệ thống ngân hàng và tài chính của thành phố đó ở tầm quốc tế) và sự sáng tạo (dựa trên số lượng patăng được cấp).

Dưới đây là bảng danh sách được dựa vào số liệu của năm 2005.

Thành phố

Global Economic Power Index

Xếp hạng

GDP

Financial Center Index

Độ sáng tạo

Tokyo

 .992

1

$1.2 trillion

697

1

New York

.984

2

$1.1 trillion

770

4

London

.935

3

$452 billion

772

8

Chicago

.915

4

$460 billion

678

7

Paris

.883

5

$460 billion

645

5

Boston

.854

6

$290 billion

655

6

HongKong

.846

7

$211 billion

760

9

Osaka

.821

8

$341 billion

601

3

Seoul

.813

9

$299 billion

649

10

Washington, DC

.813

9

$218 billion

621

2

Sydney

.756

11

$172 billion

660

12

Toronto

.732

12

$209 billion

656

16

Beijing

.667

13

$99 billion

653

11

Madrid

.634

14

$188 billion

584

14

Sao Paulo

.606

15

$225 billion

573

17

Mexico City

.557

16

$315 billion

563

23

Singapore

.553

17

$129 billion

728

25

Melbourne

.553

17

$135 billion

662

24

Montreal

.537

19

$120 billion

617

21

Vancouver

.504

20

$79 billion

627

20

Vienna

.496

21

$93 billion

571

13

Shanghai

.496

21

$139 billion

571

15

Buenos Aires

.496

23

$245 billion

528

22

Stockholm

.439

24

$49 billion

605

18

Dublin

.439

24

$76 billion

587

19

Danh sách này khiến nhiều người tranh luận và nghi ngờ. Ở đây có thể thấy là cảm tính đôi khi không đồng nhất với số liệu thực tế.

Trước hết người ta cho rằng sức mạnh về kinh tế của một thành phố là thành quả bao trùm cả thành phố đó và vùng lân cận tạo thành tổ hợp kinh tế của thành phố mở rộng. Vì vậy biên giới hành chính của thành phố không giới hạn vùng đất bao gồm dưới tên của thành phố đó. Từ đó có thể giải thích thắc mắc về sự hiện diện của thành phố này mà không có thành phố kia trong danh sách liệt kê trên.

Sự vắng mặt của các thành phố của Đức khiến nhiều người ngạc nhiên, trong đó có Zurich và Frankfurt là những trung tâm tài chính mạnh của Châu Âu. Có thể nói nước Đức đã dàn trải tiềm lực kinh tế của mình ra nhiều thành phố lớn và mỗi vùng không đủ mạnh để lấn át vị thế của những thành phố khác trên thế giới. Mặt khác, tài chính chỉ là một tiêu chí cho sức mạnh kinh tế. Vậy nên dễ hiểu nếu không thấy xuất hiện những cái tên nổi tiếng như Berlin, Zurich và Frankfurt.

Nước Nga với Moscow và St. Petersburg càng không có cơ hội với lý do tương tự mà thành quả lại thấp hơn nước Đức rất nhiều. Los Angeles và San Fransico tuy bất bình với bình chọn này cũng không hội tụ đủ số liệu minh chứng sức mạnh tổng hợp của họ. Los Angeles là kinh đô của công nghiệp điện ảnh có ảnh hưởng về văn hóa rất mạnh trên tòan cầu. Nhưng ảnh hưởng về tài chính và sáng chế của họ khiêm tốn hơn so với những nơi khác, chưa nói đến GDP chưa chắc đã hơn. San Fransico với Silicon Valley cũng gây ảo tưởng về tiềm lực kinh tế, trong khi nền kinh tế không chỉ phụ thuộc vào công nghệ phần mềm.

Lại nói đến những thành phố tưởng chừng rất khiêm tốn lại có thể nghiễm nhiên có “tiềm lực” hơn người. Washington DC, ngòai việc là trung tâm chính trị của nước Mỹ có vẻ là thành phố nhỏ và bình yên so với nền công ngiệp. Sự thực nó tạo thành tổ hợp với vùng Virginia và Baltimore với đại bản doanh của bộ quốc phòng, nơi sở hữu khá nhiều patăng. Đây còn là một trung tâm tài chính lớn, đứng thứ 12 tòan cầu. Boston cũng là một thành phố vừa với tổ hợp công nghiệp bao quanh là trung tâm y khoa lớn nhất thế giới và là cái nôi của các công ty về công nghệ sinh học, nơi sản sinh ra hàng tấn patăng . Đây cũng là trung tâm giáo dục của nước Mỹ và thế giới và ảnh hưởng tài chính của nó đứng thứ 10 trên thế giới.

Sự hiện diện của các thành phố khác được giải thích bằng sự kiện: đó là các trung tâm chính yếu của quốc gia họ. Ví dụ, Dublin của Ireland đã nổi lên thành trung tâm tài chính lớn thời gian gần đây cùng với câu chuyện trỗi dậy của nền kinh tế nước này trước khủng hỏang là điều kiện để họ ghi tên vào danh mục những thành phố có tiềm lực kinh tế mạnh.

Mặc dù London luôn được coi là trung tâm tài chính mạnh nhất thế giới, Tokyo với danh nghĩa là trung tâm của nước Nhật không khó khăn trở thành thành phố mạnh nhất về kinh tế tòan cầu.

Có thể tham khảo thêm danh mục những trung tâm tài chính thế giới sau đây (The Global Financial Centres Index 9- MARCH 2011):

Thành phố

Hạng
London

1

NewYork

2

Hong Kong

3

Singapore

4

Shanghai

5

Tokyo

5

Chicago

7

Sydney

8

Toronto

8

Boston

10

Seoul

11

Beijing

12

Washington D.C.

12

Paris

14

Vancouver

15

Melbourne

16

Montreal

17

Osaka

18

Dublin

19

Stockholm

19

Madrid

21

Vienna

22

Sao Paulo

23

Mexico City

24

Buenos Aires

25

Tháng Ba 20, 2012 Posted by | Khái niệm | 9 phản hồi

Học Dân chủ lúc…xế chiều

Lời nói đầu: Anh Giang Công Thế, không biết có là “quân” của bạn Lê Hải Khôi của chúng ta thời ở Viện Tin không, là chủ HiệuMinh blog khá nổi (tin giờ chót: blog này đã đóng cửa “theo gương đồng chí”). Anh có bài viết về dân chủ khá dễ đọc và cũng có bạn “còm” bổ sung khá chất lượng. Vậy xin đăng lại ở đây cho các bạn đọc.

*
Muốn có xã hội công bằng, văn minh thì tâm thức của mỗi cá nhân phải được dạy, được hiểu và biết về dân chủ, từ thầy cô, đến bố mẹ, rồi đứa trẻ và cả xã hội. Chẳng có vị lãnh đạo tối cao nào tuyên bố mang lại điều thiêng liêng ấy cho một dân tộc, để rồi sau một đêm, cả quốc gia ấy trở thành dân chủ. Đó là quá trình “mang nặng đẻ đau” hàng thế kỷ.

Thảm họa “ngõ cụt” ngôn ngữ vì nỗi sợ ám ảnh…

Thử tưởng tượng, bạn là người Việt thuộc lớp người “ngũ thập tri thiên mệnh”, lứa tuổi 50 thông suốt chân lý của tạo hoá, hiểu được mệnh trời.

Nhưng có người muốn làm một thăm dò đơn giản. Đi dự hội thảo, khi diễn giả dứt lời và hỏi “Quí vị có câu hỏi hay phát biểu gì không?”

Bao nhiêu người dám đứng lên? Giả sử hội nghị mang tầm khu vực hay quốc tế, liệu có cánh tay Việt nào giơ lên? Người nhà ta chọn hàng ghế đầu để đối mặt với diễn giả, phản hồi trực diện bằng cả ngôn từ lẫn ánh mắt, hay chọn chỗ khuất phía cuối để ngủ vì đang bị…trái giờ?

Hiểu được mệnh trời nhưng liệu có dám nói về những điều mình thông suốt chân lý, dù biết rằng, diễn giả trên kia nói đôi điều không lọt tai.

Nhiều người tâm sự rằng, rất muốn phát biểu. Nhưng khi đứng lên, lời lẽ bay đi đâu hết cả, đầu óc trống rỗng. Người ta bỗng rơi vào khủng hoảng từ ngữ, từ từ ngồi xuống, đỏ mặt và xấu hổ.

Trong khi đó, rất đông thính giả muốn thiết tha nghe phe ta nói. Họ ít thấy dân tộc này “nói vo” ở những diễn đàn quan trọng. Nếu có, chỉ là những bài đã viết sẵn, thuộc lòng, không sai một dấu phảy.

Cơ nguyên nào mang đến thảm họa “ngõ cụt” trong ngôn từ khi hội nhập? Dù nhiều diễn đàn quốc tế hết sức thoải mái, mỗi ý kiến không hề bị kết luận “đúng hay sai”, mà “đó là một ý kiến”.

Phải chăng vì sợ sai, chúng ta không dám nói? Không đủ tự tin trước đám đông, sợ bạn cười, sợ cấp trên mắng và sợ cả bản thân mình.

Về khách sạn nằm nghĩ mới nhận ra, mình đã được giáo dục dân chủ là thế nào đâu. Nếu được học, đó là kiểu “thầy đọc, trò ghi”: “Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó nhân dân làm chủ, đảng lãnh đạo, chính phủ thực hiện“ và cứ thế về nhà nhai lại y nguyên mà chả hiểu gì.

Ra thế giới bên ngoài, bỗng thấy mình được thoải mái nói năng thì đã quá muộn. Đứng trên bục thực hành “văn minh toàn cầu” ở tuổi …”xế chiều”, khi nhịp tim có vấn đề và não trạng không còn minh mẫn. Nói vài dòng cũng phải giở “phao” trong túi ngực.

Chuyện trên tưởng nhỏ nhưng cũng làm cho không ít quốc gia lỡ chuyến tầu của nhân loại.

Dân chủ “trắng – đen”

Người da đen ở Mỹ hiện được hưởng sự công bằng hơn so với thế kỷ trước không phải do người da trắng văn minh, có học thức và nghĩ cần có công bằng xã hội. Chắng có người da trắng hay tổng thống nào lại rộng lòng làm việc đó. Sự dân chủ giữa hai chủng tộc trắng-đen này do đấu tranh mà có, máu đã đổ và đổ rất nhiều để phân chia quyền lực.

Tại Mỹ cách đây 60-70 năm, ở một số bang, dân da đen lên xe bus được ngồi từ ghế cuối xe và dân da trắng ngồi ghế gần tài xế. Cứ thế, từ hai đầu và đuôi xe, hành khách đen trắng được từ từ lấp hết chỗ.

Đến khi đầy xe, nếu có một người da trắng lên thì một người da đen ở chỗ giáp ranh giữa hai màu da phải đứng lên nhường chỗ cho người da trắng kia và anh da đen phải đứng. Lần lượt, những người da trắng được ưu tiên ngồi và da đen phải đứng nếu còn khách lên. Người tài xế có thể quyết định người da đen nào đứng lên để nhường chỗ.

Thời đó, dân da trắng luôn là ưu tiên số một trong cửa hàng ăn, trong mua sắm và được chiếm chỗ trên xe khách.

Chuyện xe bus “đen trắng” chỉ kết thúc khi cô thư ký da đen Rosa Parks nhất định không nhường chỗ. Rosa bị bắt và đưa ra tòa, bị phạt 10$ và nộp án phí 4$ (giá năm 1955).

Tuy nhiên, hiện tượng Rosa trở thành một phong trào phản kháng lan rộng trong người da đen. Luther King được lựa chọn làm chủ tịch cho phong trào phản đối nạn xe bus “phân biệt chủng tộc”, người da đen cương quyết không nhường chỗ. Cuối cùng, tòa án phán quyết việc phân biệt đối xử như trên vi phạm pháp luật.

Người da đen được giải phóng với nhiều quyền lợi hơn, công bằng hơn, dù một kẻ căm thù dân chủ đến điên khùng đã giết chết thủ lĩnh Luther King vào năm 1968.

Nhưng những gì mà Rosa và Luther King để lại đã giúp cho nước Mỹ được cảnh tỉnh về nạn phân biệt màu da đáng xấu hổ. Vì thế, hôm nay có Tổng thống da đen Barack Obama đang lãnh đạo thế giới tại Nhà Trắng.

Dân chủ từ tâm thức và giáo dục

Hỏi vài đồng nghiệp phương Tây khoảng 30-40 tuổi rằng, tại sao họ tự tin trước đám đông, không ngần ngại bầy tỏ chính kiến. Câu trả lời khá rõ, quốc gia họ được tận hưởng nền giáo dục “dân chủ, tự do” tại gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội ngay khi con người còn ấu thơ.

Cô cháu sống ở khu Ba Đình viết email kể: Khi Hà Nội chớm thu, lá rụng đầy đường Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Trần Phú, đẹp vô cùng. Người mẹ thường cho con trai ra nghịch lá. Cậu thích lắm, hất tung lá lên không, rồi nằm lăn ra đất.

Hỏi cu cậu lớn lên con thích làm gì. Cu cậu trả lời hết sức bất ngờ “’Con sẽ làm người quét lá”.

Điều gì xảy ra nếu người mẹ trẻ mắng đứa con “ngu” rồi bắt con trở thành bác sỹ. Rất có thể khi đi máy bay chẳng hạn, cu cậu còn dám muốn thành phi công hay không. Sự không tôn trọng “ý kiến cá nhân” của người mẹ có thể phá hỏng tương lai của chính đứa con mình.

Muốn có xã hội công bằng, văn minh thì tâm thức của mỗi cá nhân phải được dạy, được hiểu và biết về dân chủ, từ thầy cô, đến bố mẹ, rồi đứa trẻ và cả xã hội. Chẳng có vị lãnh đạo tối cao nào tuyên bố mang lại điều thiêng liêng ấy cho một dân tộc, để rồi sau một đêm, cả quốc gia ấy trở thành dân chủ. Đó là quá trình “mang nặng đẻ đau” hàng thế kỷ.

Dân chủ nước người

Người ta cấm đánh trẻ vì không muốn chúng bị người lớn áp đặt. Muốn chúng nghe lời, bố mẹ phải “đàm phán” cho tới khi hai bên đi đến “thỏa thuận”. Đó là mầm mống cho dân chủ, công bằng xã hội và được pháp luật bảo vệ ngay từ lúc một sinh linh ra đời.

Những quốc gia phương Tây có nền dân chủ hàng trăm năm đưa ra mô hình “tam quyền phân lập”. Đó là cách phân chia quyền lực trong định chế quốc gia.

Từ mấy trăm năm, hiến pháp Hoa Kỳ đã tạo những cơ sở thừa nhận sự tồn tại độc lập, kiềm chế lẫn nhau giữa 3 cơ quan: Lập pháp, hành pháp, tư pháp. Không một cơ quan nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị của quốc gia.

Tuy thế, sau một thời gian hoạt động của tam quyền, người ta cũng phát hiện, “ba anh” trên có thể thông đồng với nhau để độc tài, chuyên chế để lũng đoạn đất nước. Vì thế, mới có thêm quyền lực thứ tư chính là báo chí, thay mặt nhân dân, “kiểm soát” cả ba nhánh quyền lực trên.

Xã hội dân chủ thực sự cần có 4 nhánh quyền lực mạnh như nhau và kiểm soát lẫn nhau. Không ai được phép ngồi lên pháp luật.

Dân chủ của chúng ta

Nước ta từ thời 1945 là “Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. Không phải là khái niệm mới.

Gần đây, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nói “Đại hội XI của Đảng phải làm sao đạt mục tiêu chung là lựa chọn, giới thiệu và bầu được những người không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có năng lực trí tuệ và tổ chức thực tiễn, có tư duy đổi mới, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, có năng lực tham gia vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; có đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; đoàn kết và có khả năng quy tụ sự đoàn kết, có uy tín cao trong Đảng và trong nhân dân”.

Một việc có thể làm ngay mà không phải du nhập từ đâu để tìm ra người lãnh đạo không tham nhũng. Đó là người được lựa chọn vào trung ương, vào chức vụ cao, cần qua những phép thử của dư luận.

Obama khi tranh cử Tổng thống phải khai thu nhập cá nhân, kể cả hồ sơ sức khỏe, cho 350 triệu người Mỹ biết, với tình trạng tim mạch như thế, liệu chân có run khi nói trước hàng triệu người?

Ai muốn cầm cân cho chế độ thì hãy công khai minh bạch toàn bộ tài sản của mình, từ tài khoản nhà băng, xe cộ, nhà cửa, đến đất đai. Việc đó nên làm trước mỗi cuộc bầu bán. Ứng viên cần thông báo rõ trên trang web. Việt Nam có tới 20 triệu người dùng internet, đủ để phủ sóng dư luận tới 86 triệu dân.

Nếu cho rằng lý lịch hay tài sản các ứng viên thuộc vào bí mật quốc gia, dân không có quyền được “biết, bàn, làm, kiểm tra”, đợi yên vị rồi mới công bố tên tuổi thì dân chủ lúc đó e rằng như một thứ trang trí trong tủ kính. Nếu chỉ dân chủ trên lời nói làm sao được người dân tâm phục, khẩu phục.

Nó cũng tương tự như người ở tuổi tri thiên mệnh, hiểu ra nền văn minh nhân loại ở thế kỷ 21 vào tuổi xế chiều, để rồi gà gật ngủ lúc trái giờ, chẳng kịp nhìn bánh xe con tầu hội nhập lăn đi.

Hiệu Minh. 05-04-2010

Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

…Xã hội tự do dân chủ không hứa hẹn điều mà xã hội cộng sản hứa hẹn: “không có cảnh người bóc lột người.” Ngày nào con người còn tham sân si, ngày đó thế gian còn sự bất công. Thể chế chính trị không thể giải quyết được tất cả những sự bất công này. Cho nên chuyện không có cảnh người bóc lột người là một chuyện mãi mãi là không tưởng.

Cho đến nay xã hội tự do dân chủ vẫn là một hình thức xã hội ưu việc của nhân loại.

Xã hội tự do dân chủ chỉ hứa hẹn một điều “mọi người bình đẳng và được quyền mưu cầu hạnh phúc” như Thomas Jefferson đã viết trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ vào năm 1776, và Hồ Chí Minh nhắc lại trong Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam vào năm 1945.

Vì thế, xã hội tự do dân chủ ra sức xây dựng những cơ chế như tam quyền phân lập, tự do báo chí nhằm mục đích bảo vệ một cách tương đối sự “bình đẳng” và “quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi người. Tương đối, bởi vì sự mưu cầu hạnh phúc của người này sẽ ảnh hưởng đến sự mưu cầu hạnh phúc của người khác. Con người không thể có con mắt của thượng đế để thấy hết những sự lừa lọc, hiếp đáp, bất công đằng sau những quan hệ “mưu cầu hạnh phúc” để xét xử một cách tuyệt đối công minh.

Nền công lý của xã hội tự do dân chủ chỉ hứa hẹn rằng nó sẽ cố gắng cải tiến, điều chỉnh từng ngày, qua tiến trình rất chậm chạp của luật pháp và dân chủ. Nó không hứa hẹn giải quyết tất cả những bất công trong vòng một ngày, một tháng, một năm, một đời người, một thế hệ, hay nhiều thế hệ, nó chỉ hứa hẹn rằng sẽ được giải quyết. Nhanh hay chậm là tùy thuộc vào lòng hướng thiện và nghị lực của những con người trong xã hội đó, có muốn dùng cơ chế dân chủ để kiên trì đấu tranh cho một xã hội tốt đẹp hơn hay không.

Mặc dù chậm chạp, nhưng xã hội được điều chỉnh để ngày càng tốt đẹp hơn. Nước Mỹ giải quyết được các vấn nạn người da đen, người da đỏ, hồi phục quyền công dân, xin lỗi cách đối xử với người dân Mỹ gốc Nhật trong đệ nhị thế chiến. Ngay cả chiến tranh Việt Nam, khi thất bại, họ sẵn sàng nhìn nhận và thành tâm mổ xẻ vấn đề để tìm hiểu và cải thiện cho tương lai. Có thể những giải quyết chưa rốt ráo toàn vẹn, nhưng đó là một hành trình không chấm dứt của việc đi tìm cái tuyệt đối với giới hạn của những cái tương đối.

Kiến tha lâu đầy tổ, ở những xã hội có nền móng tự do dân chủ lâu đời, xã hội tương đối công bằng và tiến bộ hơn.

Qua trải nghiệm của loài người, xã hội tự do dân chủ đã được chứng minh là ưu việt nhất. Theo thống kê, cho đến năm 2005, 119 trong 190 quốc gia trên thế giới quyết định đi theo thể chế dân chủ, trong đó có vài nước quen quen.

Nếu dạo một vòng qua web, chúng ta có thể thấy một số netter tìm kiếm những dẫn chứng rời rạc trong quá khứ để kết luận rằng xã hội tự do dân chủ cũng đầy rẫy những bất công là chỉ “nhìn cây thấy cây” chứ chưa phải “nhìn cây thấy rừng.”

Xã hội tự do dân chủ cho phép mỗi cá nhân cơ hội bình đẳng như nhau trong việc đóng góp tác động thay đổi xã hội. Nếu nền dân chủ Thái lan không hiệu quả bằng nền dân chủ Mỹ, điều đó không tiết lộ gì nhiều về bản chất của xã hội tự do dân chủ, mà chỉ tiết lộ về nền tảng văn hóa dân chủ khác biệt của hai dân tộc mà thôi.

Để đất nước Việt Nam có thể dùng thể chế dân chủ để thăng tiến, dân tộc Việt Nam sẽ cần đến rất nhiều người hiểu và sẵn sàng làm người dân chủ. Đó là một đòi hỏi khó khăn mất nhiều thời gian, và cần phải có sự đầu tư đúng đắn về giáo dục dân chủ, mới hy vọng có thể đào tạo ra những công dân có tinh thần dân chủ.

Nói một cách mù mờ rằng người Việt Nam cần có “dân trí” cao (nếu được đo lường bằng bằng cấp) trước khi có dân chủ là vẫn chưa nói đến cốt lõi của vấn đề. Có lẽ nên nói rằng người Việt Nam song song với việc nâng cao dân trí, cần có sự giáo dục tinh thần dân chủ cao thì đúng hơn.

Và sự phổ biến tinh thần dân chủ một cách rộng rãi trong xã hội không thể có được nếu chính quyền không bắt đầu hành xử một cách dân chủ.

Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

…Mỹ có thực sự tự do dân chủ hay không? Nước Mỹ thực sự có “tự do dân chủ” trong một giới hạn chấp nhận được, được nhiều người trên thế giới công nhận và là mô hình cho nhiều nước noi theo. Thậm chí, cuộc cách mạng Pháp (1789) cũng được gợi hứng từ hệ thống chính trị dân chủ của Anh và cuộc cách mạng Mỹ (1776), mặc dù sử sách của khối cộng sản không muốn tuyên dương chuyện đó, cho nên chỉ nhắc đến cuộc cách mạng Pháp như điểm khởi đầu của giai đoạn chính trị hiện đại.

Với những sự thật lịch sử đó, không còn cần thiết để chứng minh rằng “Mỹ có thực sự tự do dân chủ hay không?” Nếu có những điều có vẻ như mâu thuẩn, trái ngược đối với những người chưa từng sống và hiểu xã hội dân chủ, thì nên được giải thích hơn là chứng minh.

Dân chủ phải gắn liền với tự do. Tự do không có nghĩa là được bảo bọc. Tự do tạo ra nhiều cọ xát, bởi vì có nhiều ý kiến khác nhau. Dân chủ là luật chơi để giải quyết những cọ xát, khác biệt theo nguyên tắc đa số thắng thiểu số. Cho nên xã hội tự do sinh động, dường như lúc nào cũng có xung đột, nhưng thường không có chiến tranh, bạo động. Một chính quyền dân chủ hữu hiệu sẽ bảo đảm cho những xung đột đó có thể xảy ra nhưng không dẫn tới bạo động, mà được giải quyết theo luật pháp.

Trong bối cảnh đó, sự xung đột về chính kiến, biểu tình tại những đất nước dân chủ tự do, là một chuyện tất nhiên phải xảy ra, bởi vì chỉ trên những đất nước tự do như thế, sự khác biệt chính kiến sâu sắc của người mới được thể hiện. Xã hội càng tự do dân chủ thì sự phê phán chính quyền càng mạnh mẽ.

Tuy nhiên, Xung đột là công cụ phản ánh hiện thực giúp điều chỉnh xã hội.

Ở Việt Nam, những xung đột chính kiến như vậy, trên bề mặt không thấy xuất hiện. Nhưng không có nghĩa là không có. Chúng chỉ bị đàn áp, đè nén, không cho phép xảy ra mà thôi. Thiếu phương tiện để có sự phản hồi chính xác về thực trạng trong xã hội, các thể chế phi dân chủ thường mắc phải, hoặc rất chậm chạp trong việc nhận ra những sai lầm. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Việt Nam, nếu không dân chủ hóa, sẽ gặp bế tắc trong tương lai.

Lợi ích của mô hình xã hội tự do dân chủ là xung đột xảy ra thường xuyên và được giải quyết thường xuyên cho nên xã hội tiến bộ, ổn định và không có thay đổi lớn ở cấp độ cách mạng và đấu tranh bạo động, gây máu đổ, đầu rơi.

Ngược lại, những xã hội phi tự do dân chủ, khác biệt bị đè nén, khi bùng nổ, xã hội bị mất ổn định. Nếu thiếu cả cơ chế chính trị vững chắc, xã hội sẽ đi vào loạn lạc, tương lai bất định. Đó là tình trạng của một số nước Trung Đông và Bắc Phi như chúng ta thấy hiện nay. Việt Nam cần nhìn vào đó để rút ra những bài học kinh nghiệm.

Ai Nghĩ Dùm Tôi says:

Dân chủ là một quá trình đòi hỏi thời gian lĩnh hội và thực thi trong đời sống cá nhân cũng như đời sống xã hội, cho dù nó là dân chủ tư sản hay dân chủ tập trung.

Thực hiện dân chủ trong mọi xã hội, chế độ cũng phải thông qua những bước từng bước tương tự: qua giáo dục, phổ biến, hun đúc một tinh thần dân chủ thay thế cho một tinh thần cùng những thói tục độc đoán – xã hội từng bước không còn tạo điều kiện, cơ hội cho hệ thống “thân, thế, chức, quyền” tồn tại một cách nghiễm nhiên.

Hiến pháp và Luật pháp phải nghiêm minh và công bằng. Không thể một sớm một chiều thực hiện dân chủ nếu không tạo điều kiện cho dân chủ phát triển bằng con đường luật pháp (soạn thảo, ban hành, phổ biến, và thi hành…), nhất là khi xã hội mới có những bộ luật (hình sự, tố tụng hình sự, dân sự..) thay cho các sắc lệnh từ thập niên 90, dưới mười năm thôi vẫn chưa đủ. Chỉ vài năm thôi thì chưa đủ hình thành một xã hội pháp trị. Không có xã hội dân chủ nếu như tinh thần dân chủ và tinh thần công dân không là nền tảng của nền giáo dục.

Tháng Bảy 8, 2011 Posted by | Khái niệm | | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đàn ông Việt và Phụ nữ Việt‏

Lời dẫn: Bạn mình, Trần Tuấn, tác giả bài viết dưới đây là bác sỹ, tiến sỹ y khoa và là nhà nghiên cứu về sức khỏe cộng đồng. Trung tâm của Tuấn nghiên cứu nhiều về hiện tượng tâm thần nên rất quan tâm đến áp lực xã hội lên tình trạng bệnh tâm thần ở VN (Nên nhớ những người hay nóng giận không kiềm chế được cũng có thể coi là tâm thần nhẹ). Một vấn đề nổi cộm là thân phận phụ nữ.

Trăn trở của Tuấn về mối quan hệ giữa đàn ông và phụ nữ Việt nói chung và quan hệ trong vợ chồng Việt nói riêng là trăn trở của rất nhiều người. Công bằng mà nói nam nữ Việt nếu đánh giá trên khía cạnh con người thôi thì cũng có đủ cung độ khen chê như nam nữ của bao dân tộc khác. Chỉ khi đặt họ là “đối tác” của nhau thì sự khác biệt mới đáng kể.  Người vợ Việt thực sự thiệt thòi so với “đồng nghiệp” nước ngòai đồng đẳng của họ. Ở VN, các bà vợ thành phố thì khiếp hãi với kiếp làm vợ của các bà ở nông thôn. Các bà vợ thuộc “tầng lớp trên”  không  khỏi thấy mình thua kém các phu nhân của các đối tác nước ngòai. Nhiều gia đình nhìn rất đầm ấm hạnh phúc, có người chồng “lý tưởng”. Nhưng thử nhìn sâu vào thì có lẽ đa số các gia đình đó có người vợ biết nhẫn nhục chịu đựng. Đàn ông Việt chỉ yêu phụ nữ biết nghe lời. Người vợ Việt không có lựa chọn khác để có một gia đình hạnh phúc. Các lọai “mánh” kể cả mánh “lạt mềm buộc chặt” chung qui là “hầu” chồng mà thôi (mà buộc được chân chứ chắc gì buộc đươc đầu!).

Rất nhiều lần nghe người khác khen ngợi những người mẹ biết hy sinh cho gia đình, chồng con mà không khỏi thấy gai gai trong người. Sao người ta không tự hỏi lẽ nào những người con, người chồng đó nỡ để người phụ nữ ấy phải sống khổ sở vậy. Cái hạnh phúc được hy sinh của những người phụ nữ ấy có khác nào lời khen của dân Bắc Triều Tiên khen xã hội của họ (họ có biết xã hội nào khác đâu)! Theo mình, họ là tấm gương xấu cho việc làm nô lệ cho chồng con, đáng thương nhiều hơn đáng khen.

Phụ nữ đúng là có sở trường hơn về việc nhà và chăm sóc gia đình là yếu tố duy nhất tạo nên gia đình đầm ấm. Nhưng đàn ông Việt không biết hạn chế sở thích vô hạn của mình. Chồng Việt thường mang sự nghiệp để ép vợ theo mình. Thế đàn ông nước ngòai không có sự nghiệp chăng? Rõ là kém họ rồi!

Chắc chỉ vài thập kỷ nữa thôi là VN và nhiều nước “trọng nam” sẽ đối đầu với xã hội thừa đàn ông. Nếu không có sự điều chỉnh thích hợp thì đám con cháu sẽ phản ứng cực đoan trở lại, rũ bỏ hết những cái hay của người vợ VN, như một sự “trả thù” cho thế hệ tổ tiên.

Sau đây là bài của Trần Tuấn.


Đàn ông Việt và Phụ nữ Việt‏

Với tôi, quả thực có nhiều lần trở đi trở lại vấn đề này!

Trong chuyến công tác Thụy Điển cách đây 10 năm, tôi có dịp trao đổi thân tình với các bạn Thụy Điển, những người rất yêu mến Việt Nam, một số đã từng công tác tại Việt Nam những năm 80 thế kỷ trước! Vì thế, tôi được lắng nghe nhiều tâm sự của họ về con người Việt Nam, đất nước Việt Nam (không về chính trị đâu nhé! nhân văn thôi!)

Trong số các câu chuyện trao đổi, có việc về phụ nữ phương tây nhìn đàn ông Việt thế nào, và ngược lại. Kết luận chung: họ cho rằng so với họ, đàn ông Việt có nhiều điểm hạn chế (thể hình, bề ngoài, lối tư duy hấp hẫn người khác giới…), trong khi đó, quá ích kỷ và tham lam, khi tạo dựng và duy trì một xã hội bất công bằng, để đàn ông Việt hưởng thụ phần nhiều hơn (so với phụ nữ Việt). Đàn ông Việt quá sướng khi tận hưởng quá nhiều ưu đãi: thiên nhiên đẹp, thức ăn ngon, phụ nữ đẹp!  trong khi Phụ nữ Việt thì rất đáng yêu và đáng thương, họ thông minh, xinh đẹp (đàn ông Thụy Điển khẳng đinh rằng dưới con mát phương tây, phụ nữ Việt Nam nằm trong số phụ nữ thông minh và đẹp nhất thế giới) nhưng hy sinh nhiều quá, àm lụng vất vả, cung phụng hết lòng cho chồng con!
Tóm lại, tôi rút ra là “đàn ông Việt” bị phụ nữ phương tây “chê”, còn phụ nữ VIệt, được đàn ông phương tây”khen” và mong ước!

Sau này, tôi đã hỏi hỏi một số phụ nữ mà tôi cho là họ có khả năng giúp tôi đưa ra nhận định khách quan, và mong đợi họ  trả lời tôi thành thực, vì tôi muốn đi tìm sự thật!.

Tôi thấy phần đông đồng quan điểm: đàn ông Việt Nam quá nhiều điểm xấu! Đàn ông nước ngoài nhiều điểm tốt “hơn” đàn ông Việt. Phụ nữ Việt Nam đi nước ngoài, hoặc làm việc với người nước ngoài, “tín hiệu” đánh đi từ đàn ông phương tây vô cùng nhiều (tôi muốn nói tìn hiệu thực tình, muốn kết hôn thực lòng), đến mức, một chị ở Bộ Giáo Dục đưa ra một kết luận là “chổi cùn rế rách vơ hết”.! (ý nói, xấu đến mấy dưới con mắt người Việt, phụ nữ Việt vẫn được  người đàn ông tử tế, có học thức phương tây… mê!). (mong chị em đọc bài viết này kiểm chứng cho!).

Quả thực, càng đi nhiều, biết nhiều, tôi càng… thấy chán mình, chán văn hóa “giới” của mình.. và dần tôi… biết thân phận mình hơn!

Người nông dân hàng xóm tôi sang chơi tâm sự thương con gái mình. Bà nói, “:thật khó tìm được một người đàn ông tử tế cho nó lúc này! nhìn đâu cũng thấy không chơi bời nghiện hút, cờ bạc, thì lại mở miệng là chửi tục, không nói được một câu tử tế, lười biếng, lại chỉ giỏi ăn! Lấy về thêm tội! Nhìn lên mấy đúa  học đi Hà Nội, mở công ty này, đầu tư chứng khoán nọ, giàu đâu chẳng thấy, chỉ thấy về hét bố mẹ bán đất bán ruộng. Mà không thế thì lại  vợ nọ con kia nhức đầu. Trông ra chẳng anh nào bền, chẳng biết đâu mà lần”,

Một người phụ nữ học thức, rất thông minh, xinh đẹp, công tác bên đài truyền hình, đã ly dị chồng vài năm, độ tuổi mới chớm ngoài 30, khi nhận thấy  tôi có cách nhìn biết điều hơn về đàn ông Việt, đã nói thẳng thắn với tôi rằng, “nếu em đi bước nữa, không bao giờ nghĩ đến đàn ông VIệt!”.

Quay sang câu chuyện của anh Long nêu, vấn đề 3 vạn phụ nữ Việt đi lấy chồng Hàn Quốc! Và những ngày này, sống ở Yên Thế, chuyện trò với người dân, tôi biết ở đây vẫn đang có phong trào lấy chồng Đài Loan, Trung Quốc…

Sự phát triển của kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, siêu âm, phát hiện thai sớm…đã và đang tạo ra cho các nướcÁ đông, trong đó có Trung Quốc, Việt Nam, sự mất cân bằng giới tính. Số đàn ông ế thừa do thiếu phụ nữ, đang gia tăng

Cũng mất cân bằng giới vì hậu quả của kỹ thuật hiện đại chẩn đoán thai sớm, đàn ông Nhật, Hàn  đổ sang Trung Quốc, Mông Cổ, Đài Loan .. tìm vợ! Rồi Đài Loan đỏ sang Trung Quốc, Philippine. Indonesia, Việt Nam! Trung Quốc, đổ sang , Việt Nam…

Và đến lượt Việt Nam, , chắc chắn đàn ông Việt Nam không chịu ngồi không ế vợ! Nhưng chúng ta đổ sang đâu?

Liệu đàn ông Việt Nam với văn hóa hiện tại, đi tìm vợ ở đâu? Một bộ phận chậm chân chắc  phải chấp nhận thân phận sang tìm vợ ở những nước kém hơn ta? Lào? Cambodia? Bangladesh?

hay sang phi châu?

Vấn đề mất cân bằng giới  đang và sẽ bị trầm trọng thêm theo thời gian, bởi vấn đề nghiện hút (phần lớn là nam), HIV/AIDS, rồi trộm cắp, tham nhũng… vào tù (cũng phần lớn là nam giới!)

Cũng có con gái ở đôi tuổi lấy chồng, tôi suy từ tâm tư của tôi, vợ tôi, và cả con gái tôi!

Việc phụ nữ Việt đi lấy chồng nước ngoài (Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan), đàn ông chúng ta mới nhìn về lý do kinh tế! Rồi chúng ta quay sang cả vấn đề quản ly xã hội, chỉ trích nhà nước..thả nổi!

Tôi đồng ý hiện tượng phong trào kia là có lý do kinh tế!
Tôi đồng ý là có vấn đề thương trường, lừa bịp!
Tôi đồng ý có vấn đề một bộ phận phụ nữ kém hiểu biết, nông nổi!
Và đồng ý  có cả vấn đề chính quyền kém cỏi!

Nhưng tất cả những cái đấy,  tôi tin vẫn chỉ là bề nổi!  Để hiểu được vấn đề, phải nhìn sâu vào giá trị tương đối cảu đàn ông Việt!
Giải quyết cái gốc là tạo lại giá trị văn hóa người đàn ông Việt.

Đã đến lúc chúng ta không thể dùng biện pháp hành chính ngăn cản được sự tự do hôn nhân!
Chúng ta không thể mong trói buộc người phụ nữ Việt bằng các ràng buộc gia đình, điều tiếng xã hội! Những cái ràng buộc đó đang trở nên lỏng lẻo hơn bao giờ hết khi toàn cầu hóa diễn ra với tốc độ số hóa!

Lúc này, đọc lại truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp mới thấy thấm thía!

Hãy thử bớt chút thời gian, đọc “chút thoáng Xuân Hương”, ở chuyên thứ ba, cảm giác tê tái, đắng ngắt ở người thi sĩ trước người phụ nữ Việt, và câu nói của người phụ nữ này: “… Đàn ông các anh như trẻ con cả! Cũng giống hệt như đàn lợn của tôi, khi nào được ăn thì phởn!”

Và hãy bớt chút thời gian đọc thơ Hồ Xuân Hương, ngẫm về thơ và con người bà, để rồi liên hệ với “chút thoáng Xuân Hương” của Nguyễn Huy Thiệp!

Tôi tin là, lật lại giá trị đàn ông Việt, phụ nữ Việt, ta mới hòng tìm ra con đường giải thoát cho tình trạng “lấy chồng ngoại” cực chẳng đã của người phụ nữ VIệt Nam ngày nay!

Nếu có sơ suất gì, xin cánh đàn ông thứ lỗi!

Trần Tuấn

Tháng Một 13, 2011 Posted by | Khái niệm | | 17 phản hồi

Tiếng Việt vs. English

Khác với nhiều người, trong đó có Băng Tâm và Bùi Giáng, dịch và biên dịch chưa bao giờ là sở trường và sở thích của mình. Chỉ cần nhìn vào tên sách được dịch ra tiếng Việt như “Đỉnh gió hú” hay “Tiếng chim hót trong bụi mận gai ” cũng đủ để thốt lên sự khâm phục về sức sáng tạo đến ngạc nhiên của các dịch giả.  Người thường như mình chẳng thể tìm được những từ thích hợp hơn để diễn tả.

Tuy vậy mình vẫn băn khoăn mà nhận ra rằng, có một số từ dù được dịch rất chính xác, vẫn không thể diễn tả được nghĩa thực sự  của nó, đơn giản vì khái niệm mà từ đó mô tả được 2 dân tộc nhận thức khác nhau. Có thể liệt kê 1 vài từ sau:

Ambitious: tham vọng

Conservative: bảo thủ

Liberal: tự do

Hiểu sai nhận thức có thể đưa đến kết quả dở khóc dở cười.

Sai lầm nhỏ, hậu quả lớn

Đây là câu chuyện thực.

Một lần, trong 1 buổi phỏng vấn xin việc, ông xếp tương lai hỏi, “Cô có nghĩ rằng cô có khả năng hòa đồng với các đồng nghiệp không? (get along) ”. Mình trả lời rất tự tin, “Tôi không ambitious nên dễ dàng hòa đồng với mọi người và tránh được những khúc mắc cản trở việc hòan thành nhiệm vụ ” .  Xếp nhướn mày đáp, “Nếu không ambitious thì sẽ khó đạt thành tích cao và sẽ khó thăng tiến trong sự nghiệp đấy”.

Mình thực sự thấm thía cái sai lầm chết người này khi phải nỗ lực hơn người để đạt được cùng mục tiêu.

Conservative vs. Liberal

“Tự do hai tiếng ngọt ngào”. Lời ai đó thực sự thắp sáng lòng người khiến ta chỉ muốn xa rời cái được coi là bảo thủ. Nói dzậy mà không phải dzậy khi dùng hai từ nói trên để diễn tả xu hướng tư tưởng của 1 người hay 1nhóm người.

Nói một cách nôm na, conservative để chỉ: 1) xu hướng xã hội thiên về bảo tồn giá trị truyền thống như giá trị gia đình, quyền được sống của sinh linh (bao gồm đứa trẻ chưa thành hình trong bụng mẹ), bảo vệ gia đình truyền thống gồm vợ là đàn bà chồng là đàn ông; 2) xu hướng  chính trị thiên về bảo vệ qui luật của thị trường và quyền tự do cá nhân. Kết quả là về xã hội tư tưởng này khuyến khích gia đình có đủ cha mẹ, không khuyến khích hôn nhân đồng giới, nạo thai, li dị, hay nghiên cứu khoa học có tiềm năng lọai bỏ mầm sống như nghiên cứu tế bào gốc; về chính trị, không khuyến khích sự can thiệp sâu của chính phủ vào họat động kinh doanh  và đời sống của người dân.

Phái liberal có xu hướng: 1) về xã hội cởi mở chấp nhận trào lưu mới  về quyền con người như hôn nhân đồng tính, quyền lựa chọn giữ con trong bụng hay bỏ đi, nới lỏng việc li dị; 2) về chính trị có xu hướng nới  rộng vai trò của nhà nước tới họat động của giới tư nhân và người dân.

Hai nhóm tư tưởng này đều có hệ thống lý lẽ rất thuyết phục  để tạo thành 2 trào lưu rất thịnh hành ở xã hội phương Tây. Thực ra những người thuần conservative hay liberal  rất ít, đa số ở mức trung  gian nhưng những người  có xu hướng  lý tưởng mạnh thường ồn ào và nói to nhất nên tưởng như lấn át người  trung dung.  Theo thang bậc đo lường mức độ thì Châu Âu đi gần với liberal hơn trong khi Châu Á nghiêng về conservativre, còn Mỹ nằm ở lưng chừng. Mỹ được coi là miền đất hứa, là xứ sở của tự do, ít nhất là tự do trong việc theo đuổi ứớc mơ của mình trong khi Châu Âu tự hào với xã hội được “bao cấp” nhưng “kém thân thiện hơn” với giới doanh nghiệp và  cá nhân (biểu hiện là thuế cao ngất ngưởng). Một cách tương tự, Châu Á hiện đại với đại diện là Nhật, Hàn Quốc, Hongkong, Đài Loan, Singapore có vẻ không xấu hổ là fan trung thành của các chính sách “bảo thủ” cả về xã hội lẫn chính trị. VD: ở Singapore doanh nghiệp là thượng đế, thuế rất thấp và đơn giản, chương trình trợ cấp xã hội rất hạn chế (chương trình hỗ trợ thì nhiều).

Quay về Việt Nam, sự hiểu lầm2 từ này khiến người ta đánh gía không đúng các sự kiện. Không ít các sinh viên VN sang Mỹ học về kinh tế (economics) và kinh doanh (business) không khỏi ngỡ ngàng vì đa số các GS đáng kính của họ theo quan điểm bảo thủ.  Họ không phải chính trị gia mà là các chuyên gia nên chỉ tuân theo lý thuyết khoa học bảo rằng tự do thương mại, thị trường kinh doanh tự do là đòn bẩy cho kinh tế phát triển.  Thậm chí giảm thuế được coi là biện pháp khuyến khích kinh doanh.  Mà giảm thuế là phải giảm chi tiêu của chính phủ.

Chốt lại, chẳng thể tìm được từ nào thích hợp để chuyển tải ý nghĩa thực của các từ trên một khi người VN nhận thức về chúng rất khác với dân bản địa.

Tháng Mười Một 24, 2010 Posted by | Khái niệm | | 42 phản hồi

Hướng dẫn sử dụng blog

A-Người dùng

Bất cứ người nào truy cập vào trang web này đều trở thành người dùng.
Theo Thủ tục đăng nhập và Chính sách quản lý, người dùng được phân loại theo thứ tự quyền hạn từ thấp lên cao theo các nhóm như sau:
1. Khách viếng thăm (K)
2. Cộng tác viên (CTV)
3. Tác giả (TG)
4. Biên tập viên (BTV). Các BTV đều thuộc Ban Biên tập (BBT)
5. Quản trị viên (QTV). Các QTV đều thuộc Ban Quản trị (BQT).
Các nhóm người dùng #2..#5 được gọi chung là Người dùng đã đăng ký.


B- Quyền hạn (QH), Trách nhiệm (TN) và cơ chế Kiểm duyệt (KD)

1. Khách viếng thăm
– QH: Xem tất cả các thông tin đang hiển thị và viết các bình luận (Phản hồi). Không cần phải đăng nhập.
– TN: Khai báo tên và e-mail khi viết Phản hồi.
– KD: Nội dung Phản hồi chịu sự kiểm duyệt của Ban Biên tập.

2. Cộng tác viên:

– QH: Như Khách và được thêm chức năng viết và đăng Bài mới. Có quyền đính kèm các files: ảnh (JPEG), doc, pdf..
– TN: Phải sở hữu một tài khoản blog cá nhân tại http://www.wordpress.com. Phải đăng nhập vào blog này với các thông tin của tài khoản blog cá nhân nêu trên. Trách nhiệm này là bắt buộc với mọi Người dùng đã đăng ký.
– KD: Chỉ có Nội dung của Bài mới viết chịu sự kiểm duyệt của Ban Biên tập. Tiếp tục đọc

Tháng Ba 19, 2010 Posted by | Hỗ trợ-Quản lý, Khái niệm | | 4 phản hồi